Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2017

Giáo dục Việt Nam thời kỳ thuộc địa, qua tài liệu và tư liệu lưu trữ( 1858-1945)


Giáo dục Việt Nam thời kỳ thuộc địa, qua tài liệu và tư liệu lưu trữ( 1858-1945)










NỘI DUNG

1.      
Décision No 89 du 8 mai 1862 du Contre-Amiral commandant en chef relative à l’institution du collège annamite.
Quyết định số 89 ngày 08-5-1862 của Chuẩn Đô đốc về việc thành lập Trường Thông ngôn An Nam.
(Nguồn: J 4, BOC 1862, tr. 147-150)
Trường Thông ngôn An Nam thành lập tại Sài Gòn dưới sự bảo trợ của Chuẩn Đô đốc và sự giám sát của Quan Bố tỉnh Gia Định. Trường ra đời với mục đích đào tạo đội ngũ thông ngôn.
Chức hiệu trưởng Trường Thông ngôn được giao cho thầy Croc với sự hỗ trợ của ông Thu, giám mục người An Nam và 2 giáo viên khác được lựa chọn trong số «học viên - thông ngôn».
1. Điều kiện tuyển sinh và phương pháp học tập tại Trường Thông ngôn An Nam
Học viên - thông ngôn là những người (gốc Âu) phiên chế trong quân đội hoặc hải quân. Họ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ và có khả năng học tiếng An Nam. Họ tham gia thi tuyển trước một hội đồng khảo thí và hội đồng có trách nhiệm đề xuất lên Chuẩn Đô đốc những trường hợp đạt hay không đạt.
Sau 3 tháng thực tập, học viên nào không đủ khả năng theo học hoặc tỏ ra lười biếng sẽ bị trả lại quân ngũ.
Theo quy định, số học viên - thông ngôn không được quá 10 người, hưởng lương quân ngũ và khẩu phần ăn trị giá 6 đồng Đông Dương/tháng từ ngân sách bản xứ.
Hai giáo viên của trường hưởng phụ cấp trị giá 2 đồng Đông Dương/tháng và thêm 2 đồng Đông Dương nữa nếu tham gia giảng dạy cho người bản xứ.
Kết thúc khóa học, học viên - thông ngôn trải qua một kì thi trước hội đồng khảo thí và nếu được công nhận đủ khả năng làm việc trong các ban thanh tra bản xứ, họ có thể nghỉ làm công việc trước đây vĩnh viễn hoặc gia hạn tùy theo từng trường hợp. Chuẩn Đô đốc cấp bằng Phụ tá thông ngôn và chỉ định đơn vị tiếp nhận thông ngôn. Trong trường hợp ngược lại, học viên bị trả lại quân ngũ hoặc trả về quê nếu bị giải ngũ.
2. Thứ bậc và cách thức nâng bậc của thông ngôn người Pháp
Đội ngũ thông ngôn người Pháp gồm:
Thông ngôn hạng 1
60 (đồng Đông Dương/tháng)
Thông ngôn hạng 2
50
Phụ tá thông ngôn
40
Ngạch công chức này có thể thay đổi tùy theo nhu cầu công việc. Tuy nhiên, theo quy định, chỉ những thông ngôn có hạnh kiểm xấu mới bị sa thải sau khi điều tra và theo lệnh của Chuẩn Đô đốc.
Phụ tá thông ngôn thành thạo tiếng An Nam làm việc tối thiểu 1 năm có thể dự tuyển chức danh thông ngôn hạng 2. Hội đồng khảo thí sẽ nhóm họp để thảo luận về việc tuyển học viên vào ngạch này theo lệnh triệu tập của Tổng Tham mưu trưởng, dưới sự chủ trì của Tổng thanh tra các công việc nội chính bản xứ và ông Thu với tư cách là trợ tá.
Thông ngôn hạng 2 được nâng bậc lên thông ngôn hạng 1 nếu có thời gian công tác tối thiểu 1 năm tại vị trí này.
2.      
Décision No 44 du 31 mars 1863 du Vice-Amiral gouverneur de la Cochinchine relatif au rétablissement de l’instruction publique en Cochinchine.
Quyết định số 44 ngày 31-3-1863 của Phó đô đốc, Thống đốc Nam Kì về việc tái lập nền học chính tại Nam Kì.
(Nguồn: J 4, BOC 1862-1863, tr. 310-313)
Theo đó, các hạt giáo dục cũ tại ba tỉnh Nam Kì thuộc Pháp chính thức được tái lập.
Tổ chức của các hạt giáo dục và quy định quyền hạn của viên chức bản xứ
Đứng đầu hạt giáo dục của mỗi tỉnh là một đốc học, có quyền tổ chức và tập trung mọi vấn đề liên quan đến chương trình giảng dạy tại các phủ, huyện và xã trong tỉnh; tổ chức các kì thi hàng quý cho học sinh; theo dõi việc duy trì chế độ đãi ngộ đối với nho sĩ và học sinh tại các xã; khuyến khích nho sĩ tham gia học tập; đưa ra các đề xuất liên quan đến kì thi tuyển dụng thơ lại đang khuyết thiếu trong bộ máy chính quyền của từng tỉnh.
Đốc học đặt dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của chủ tỉnh và ăn nghỉ ngay tại tỉnh lị. Đốc học giúp việc cho chủ tỉnh trong việc đôn đốc các viên chức, giáo thụ và huấn đạo tại các tiểu khu thực thi nhiệm vụ được giao.
Mỗi phủ có một giáo thụ và mỗi huyện có một huấn đạo. Tại tiểu khu trực thuộc, những viên chức này có quyền hạn như đốc học ở cấp tỉnh. Tuy thuộc quyền quản lí của Đốc học song giống như trước đây, các viên chức này vẫn chịu sự chỉ đạo của quan huyện, quan phủ và thanh tra tiểu khu. Theo tập quán của người bản xứ, những viên chức này còn có thể đại diện cho quan phủ, quan huyện trong tiểu khu trực thuộc khi cần thiết, giám sát việc thành lập và duy trì hoạt động của các trường học cấp xã.
Đốc học quản lí một trường học gồm những học sinh giỏi nhất trong tỉnh do đốc học tuyển chọn từ các kì thi tuyển khác nhau, nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành học chính, với tỉ lệ như sau: Sài Gòn 10 học sinh; Mĩ Tho: 6 và Biên Hòa: 6. Trong số học sinh này có thể gồm cả tú tài hoặc cử nhân.
Những kì thi lớn từng được tổ chức tại Sài Gòn ba năm/lần được mở lại tại ba tỉnh thuộc Pháp theo cách thức cũ. Kì thi Hương đầu tiên diễn ra vào thượng tuần tháng 9 của năm Giáp Tí (tháng 10-1864). Sau mỗi kì thi, văn bằng tú tài và cử nhân được trao cho những học sinh xứng đáng của ba tỉnh. Các kì thi hàng năm diễn ra vào mùa xuân và mùa thu (tháng 4 và tháng 10) được tổ chức như trước theo lệnh của đốc học. Đốc học có quyền đề xuất với chủ tỉnh về việc áp dụng một số ưu tiên đối với thí sinh dự thi như: miễn quân dịch, làm xâu…
Một số tú tài và cử nhân có thể được cử tới làm việc tại một đơn vị trong chính quyền trung ương, ở phủ hoặc huyện để tìm hiểu về chính quyền. Số lượng tú tài và cử nhân nói trên không vượt quá số lượng tiểu khu tại mỗi tỉnh. Để phổ cập việc học tiếng bản xứ được viết bằng hệ thống kí tự của người Âu (chữ Quốc ngữ), mỗi giáo thụ sẽ có một thông ngôn hạng 1, hạng 2 hoặc hạng 3 giúp việc. Việc học chữ Quốc ngữ là không bắt buộc, nhưng trong các kì thi tuyển vào những vị trí khuyết vắng, nếu năng lực ngang nhau, ứng viên biết chữ Quốc ngữ sẽ được ưu tiên. Cùng với ngôn ngữ viết chính thức, việc học chữ Quốc ngữ mang tính bắt buộc và miễn phí đối với tất cả viên chức mới hưởng thù lao từ nguồn ngân sách của chính phủ. Tại các xã, đội ngũ thầy đồ vẫn đảm nhiệm việc dạy học theo tục lệ đương thời của xứ.
Lương, thứ bậc và nâng bậc của viên chức bản xứ
Có 3 hạng đốc học: hạng 1 hưởng lương không phải đóng thuế là 70 đồng Đông Dương/tháng; hạng 2: 65 đồng Đông Dương/tháng; hạng 3: 60 đồng Đông Dương/tháng.
Giáo thụ hưởng lương không phải đóng thuế là 30 đồng Đông Dương/tháng.
Huấn đạo hưởng lương không phải đóng thuế là 20 đồng Đông Dương/tháng.
Thông ngôn giúp việc cho giáo thụ và huấn đạo hoặc nho sĩ hưởng lương theo hạng. Tú tài và cử nhân tập sự hưởng lương không phải đóng thuế là 10 đồng Đông Dương/tháng. Học sinh giúp việc cho các đốc học hưởng lương không phải đóng thuế là 5 đồng Đông Dương/tháng, nếu chưa có bằng cấp.
Mọi viên chức, kể cả học sinh đều do Thống đốc bổ dụng trực tiếp hoặc theo đề nghị của chủ tỉnh. Các đốc học chuyển từ hạng thấp lên hạng cao hơn sau 3 năm làm việc. Để nâng ngạch, họ không nhất thiết phải trải qua 3 hạng nêu trên.
Đốc học được chọn từ các quan phủ có khả năng nhất. Chức giáo thụ và huấn đạo được chọn ngẫu nhiên hoặc qua kì thi tuyển tú tài và cử nhân tập sự.
Một nửa vị trí thơ lại hoặc nho sĩ hạng 1 và hạng 2 do các tú tài hoặc cử nhân đảm nhiệm. Số vị trí còn lại cũng như số vị trí nho sĩ hạng 3 do các nho sĩ được đánh giá có năng lực đảm nhiệm (không cần bằng cấp).
Nghỉ phép và trợ cấp hưu trí
Viên chức bản xứ được nghỉ phép do ốm đau hoặc sức khỏe yếu. Thời gian nghỉ phép có thể vô thời hạn, nhưng chỉ hưởng 1/3 lương làm việc trong 6 tháng đầu nghỉ phép.
Tất cả viên chức bản xứ hưởng trợ cấp hưu trí theo thâm niên làm việc, sau 30 năm làm việc thực tế; trợ cấp sẽ theo tỉ lệ công việc hoàn thành.
Đi lại và phương tiện
Các chức danh sẽ dần được bổ sung khi có ứng viên đủ năng lực và dựa trên nhu cầu về số lượng học sinh cũng như sự phát triển của các trường học. Sau kì thực tập, những viên chức ngành học chính được đánh giá về năng lực để xét nâng bậc. Ba tháng một lần, đốc học hoặc người tạm quyền giữ chức vụ này phải trình quan chủ tỉnh bản báo cáo về số lượng trường học, số học sinh, kết quả đạt được cũng như đề xuất sáng kiến cải tiến liên quan đến các trường. Sau đó, quan chủ tỉnh tiếp trình báo cáo lên Thống đốc.
Một khoản trợ cấp sẽ được trích từ nguồn thu của các tỉnh để triển khai hoạt động của các trường học. Các tổng cũng phải đóng góp tuỳ theo điều kiện nhằm tạo thuận lợi cho ngành giáo dục phát triển.
3.      
Ordre No 60 du 16 juillet 1864 du Contre-Amiral gouverneur de la Cochinchine portant création d’écoles primaires pour apprendre aux indigènes à écrire leur langue en caractères européens.
Lệnh số 60 ngày 16-7-1864 của Chuẩn Đô đốc, Thống đốc Nam Kì về việc thành lập một số trường tiểu học để dạy tiếng Pháp cho người bản xứ.
(Nguồn: J 6, BOC 1864, tr. 81-82)
Theo đó, Chuẩn Đô đốc cho phép mở một số trường tiểu học tại những trung tâm quan trọng để dạy thanh thiếu niên bản xứ phương pháp dịch từ chữ Quốc ngữ sang tiếng Pháp. Mỗi lớp học sẽ do một thông ngôn phụ trách.
Vào đầu năm học, giáo viên chủ nhiệm nộp danh sách học sinh cho thanh tra công việc nội chính bản xứ.
Sau 2 tháng, viên chức này tiến hành thanh tra các trường tiểu học nhằm đánh giá kết quả đạt được và đề cử những giáo viên xứng đáng nhận phần thưởng theo quy định như sau:
Đối với mỗi học sinh biết đọc, biết viết, giáo viên được nhận 1 phơ-răng, và 50 xu đối với học sinh biết đọc.
Học sinh biết đọc, biết viết cũng được thưởng 1 phơ-răng và nhiều phần thưởng khác, tuỳ theo năng lực.
Những người chứng minh có đủ kiến thức, năng lực có quyền mở trường tại các làng lân cận.
Thanh tra công việc nội chính bản xứ chịu trách nhiệm tổ chức những trường học này, được cấp văn phòng phẩm, mẫu sổ sách cũng như giấy tờ cần thiết để mở trường tại mỗi tiểu khu.
Mọi chi phí liên quan trích từ khoản 3, chương III thuộc ngân sách địa phương do Chuẩn Đô đốc thông qua.
4.      
Décision No 126 du 10 juillet 1871 du Contre-Amiral qui institue à Saigon une école normale coloniale.
Quyết định số 126 ngày 10-7-1871 của Chuẩn Đô đốc về việc thành lập Trường Sư phạm thuộc địa tại Sài Gòn.
(Nguồn: J 19, BOC 1871, tr. 230-232)
Quyết định gồm 6 điều, với một số nội dung chính sau:
Điều 1. Quyết định thành lập một trường cao đẳng mang tên Trường Sư phạm thuộc địa để đào tạo giáo viên tiểu học cho các trường bản xứ và nhân viên công sở, đặc biệt là nhân viên ngành địa chính.
Điều 2. Nhân sự phụ trách giảng dạy và giám sát học sinh của trường gồm có:
Hiệu trưởng với mức lương quy định là 6000 phơ-răng; 3 giáo viên người Pháp với mức lương lần lượt là 3600, 3000 và 2400 phơ-răng cùng các phụ cấp khác theo quy định. Họ được tuyển dụng trong số những người có bằng đại học, chứng chỉ năng lực nghiệp vụ hoặc của hội đồng thông ngôn, hoặc của hội đồng phụ tá thông ngôn;
Ba viên giám học bản xứ với mức lương trị giá 1000, 1400 và 1800 phơ-răng được lựa chọn trong số ứng viên có bằng tiểu học hạng 1 và tạm thời đã có chứng chỉ năng lực nghiệp vụ.
Điều 3. Dưới quyền của Giám đốc Nha Nội chính, Hiệu trưởng Trường Sư phạm thuộc địa chịu trách nhiệm về chương trình học; đảm bảo duy trì trật tự và kỉ luật liên quan đến học sinh cũng như giáo viên, giám học hay nhân viên biệt phái công tác tại trường.
Theo định kì và thể thức quy định, hiệu trưởng trình lên Giám đốc Nha Nội chính bản báo cáo về tình hình chung của trường, trình độ năng lực của giáo viên, giám học, tình hình học tập, sự tiến bộ, hạnh kiểm của học sinh; đề xuất hình thức kỉ luật đối với nhân viên biệt phái.
Hiệu trưởng có quyền quyết định các hình thức kỉ luật đối với học sinh, trừ quyết định đuổi học và tuyển sinh phải nhận được sự đồng ý của Giám đốc Nội chính.
Điều 4. Giáo viên và giám học phụ trách giảng dạy và giám sát học sinh dưới sự chỉ đạo của hiệu trưởng. Ngoài ra, họ còn quản lí sổ sách và giải quyết các công việc có liên quan theo quy định và chỉ thị của hiệu trưởng. Hiệu trưởng và một số ít giáo viên, giám học ăn ở tại trường.
Điều 5. Tổng số học sinh Trường Sư phạm thuộc địa quy định tạm thời là 60. Học sinh ăn ở tại trường và hưởng trợ cấp trị giá 20 phơ-răng/tháng để trang trải chi phí ăn uống và quần áo.
Điều 6. Để theo học tại trường, thanh thiếu niên phải ở độ tuổi từ 16 đến 25 tuổi, đậu kì thi tuyển sinh theo chương trình do Giám đốc Nha Nội chính quy định theo đề nghị của hiệu trưởng. Giám đốc Nha Nội chính có thể miễn điều kiện về tuổi đối với những trường hợp do hiệu trưởng đề xuất.
5.      
Arrêté No 202 du 29 août 1873 du Gouverneur et Commandant en chef p.i portant organisation du collège des stagiaires et fixant les programmes examens à subir par les candidats.
Nghị định số 202 ngày 29-8-1873 của Thống đốc, quyền Tổng Tư lệnh về việc tổ chức Trường Tập sự và quy định chương trình thi tuyển.
(Nguồn: J 26, BOC 1873, tr. 297-302)
Nghị định gồm 5 phần, 21 điều, trong đó có:
Phần I. Trường Tập sự
Điều 1. Các lớp học của Trường Tập sự khai giảng vào ngày 01-01 hàng năm và kết thúc vào ngày 15-11 của năm sau.
Điều 2. Kì thi tốt nghiệp diễn ra vào ngày 15-12 hàng năm.
Điều 3. Chương trình giảng dạy của trường gồm giáo trình chữ Quốc ngữ, chữ Hán, chính quyền An Nam, xây dựng thực hành, thực vật học, tiếng Cao Miên.
Riêng giáo trình tiếng Cao Miên có thêm một số bài học về địa lí, lịch sử và tổ chức xứ Cao Miên.
Điều 4. Ngoại trừ môn thực vật học, còn lại đối với những môn học khác, giáo viên đều phải nộp lại cho hiệu trưởng của trường bản thảo giáo án cho mỗi bài giảng. Sau đó, bài giảng này được in nguyên cảo và phát cho học sinh.
Điều 5. Kì thi cuối năm đề cập tới tất cả các môn học. Ngoài ra, cán sự tập sự còn thi vấn đáp liên quan đến khái niệm về kinh tế chính trị, sau khi nghiên cứu các tác phẩm:
- Khái niệm về kinh tế của tác giả Baudrillart;
- Lời nguỵ biện về kinh tế của Bastiat;
- Sách chuyên luận về kinh tế chính trị của Joseph Garnier.
Điều 6. Kì thi cuối năm gồm thi viết và vấn đáp.
Môn thi viết bao gồm: câu hỏi về kinh tế chính trị dựa trên ý tưởng lấy từ 1 trong 3 cuốn sách trên; dịch đoạn văn xuôi từ chữ La-tinh sang chữ Quốc ngữ; lập bản vẽ và dự toán cho một công trình xây dựng theo hướng dẫn của giám khảo.
Môn thi vấn đáp gồm: dịch một bản kiến nghị từ chữ Quốc ngữ sang tiếng Pháp; dịch một trang sách trong một tác phẩm viết bằng chữ La-tinh sang chữ Quốc ngữ; trả lời bằng tiếng Pháp các câu hỏi về ngôn ngữ cũng như nội dung đề cập trong giáo trình dạy tiếng Cao Miên; đọc và phân tích một cuốn sổ thuế viết bằng chữ Hán; đọc hiểu một giao kèo mua bán, biên lai, giấy thông hành, hợp đồng cho thuê, trái phiếu viết bằng chữ Hán; trả lời các câu hỏi về tổ chức chính quyền An Nam và về thực vật học.
Điều 7. Hàng năm, vào dịp khai giảng khoá học, Thống đốc ban hành nghị định ấn định số vị trí cán sự hạng 3 dành cho học sinh thi đậu cả 2 hạng bài thi trên.
Điều 8. Thành phần hội đồng giám khảo được quy định theo nghị định ban hành ngày 01-12 hàng năm. Hội đồng này phân loại học sinh theo số điểm đạt được trong kì thi.
Phần II. Chương trình thi dành cho cán sự hạng 3
Điều 9. Để lên thứ hạng cao hơn, cán sự hạng 3 phải thi viết và thi vấn đáp.
Môn thi viết gồm: luận cương về kinh tế chính trị theo công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế hiện đại; dịch ngược và dịch xuôi.
Môn thi vấn đáp gồm: đọc, dịch báo Gia Định và các tác phẩm của Pétrus Ký hoặc của một số nhà văn An Nam; giải thích một bài chính văn bằng chữ Hán trích từ các tác phẩm Đại học và Mạnh Tử; giải thích và dịch một số giấy tờ thông dụng sang chữ Hán như: hợp đồng, giao kèo các loại mà người An Nam thường dùng; trả lời câu hỏi về lịch sử An Nam dựa trên các tác phẩm nổi tiếng của Pháp và lịch sử các xứ thuộc địa của Pháp, Java, Ma-ni-la và đế chế Ấn Độ từ khi người Bồ Đào Nha đến; hỏi đáp về luật hành chính An Nam và cách thức lập biểu thuế tại An Nam, Pháp và Nam Kì Lục tỉnh; bảo vệ luận cương về kinh tế chính trị trước công chúng.
Phần III. Chương trình thi dành cho cán sự hạng 2
Điều 10. Để trở thành cán sự hạng 1, các cán sự hạng 2 phải dự thi theo chương trình sau:
Môn thi viết: dịch xuôi một bản chính văn trích từ Tứ thư; dịch một hối phiếu hoặc một hoá đơn sang chữ Hán; dịch xuôi.
Môn thi vấn đáp: hội thoại bằng tiếng Việt với một người bản xứ; giải thích, đọc và thảo luận về một đạo luật của người An Nam viết bằng chữ Hán; giải thích và đọc một văn bản đơn giản bằng tiếng Cao Miên hoặc theo yêu cầu của thí sinh, có thể thay bằng một tác phẩm nào đó liên quan đến một trong những thứ tiếng mà người Đông Dương sử dụng; nhận xét về nguồn gốc của đạo Bà la môn, nghi lễ Phật giáo và việc tuyên truyền cải cách tôn giáo thế kỉ 16 từ bán đảo Đông Dương đến Trung Hoa và Nhật Bản; nhận xét về dân tộc học và lịch sử của Ấn Độ, lịch sử và văn học Trung Hoa dựa vào các bản dịch và tác phẩm hiện đại.
Phần IV. Chương trình thi tạm thời dành cho thanh tra viên hạng 3 và 4 nhậm chức trước khi ban hành Sắc lệnh ngày 10-02-1873, và trở thành cán sự phụ hạng 2 và 3 theo sắc lệnh trên.
Điều 11. Từ ngày 01-01-1874, tranh tra viên hạng 3 và 4 nhậm chức trước khi ban hành Sắc lệnh ngày 10-02-1873 trở thành cán sự phụ hạng 2 và 3 theo sắc lệnh trên, có quyền dự thi để trở thành cán sự chính ngạch tại thứ hạng của họ hoặc ở hạng thấp hơn, theo chương trình tạm thời trên đây có hiệu lực trong vòng 3 năm.
Điều 12. §3 điều 5 trong Sắc lệnh ngày 10-02 quy định những sĩ quan và viên chức ngành Hải quân khi theo học lớp tập sự cũng được áp dụng các quy định nêu trong Sắc lệnh ngày 15-6-1870, theo đó, những sĩ quan biệt phái trong ngành công nghiệp có thể được nghỉ phép không lương từ 3 đến 6 năm tính từ thời điểm họ trở thành cán sự chính ngạch.
Điều 13. Thí sinh thi lên ngạch cán sự chính ngạch hạng 3 phải thi viết và vấn đáp.
Môn thi viết gồm: dịch xuôi và dịch ngược bằng chữ Quốc ngữ; thảo luận về một vấn đề nào đó liên quan đến tổ chức, hành chính hoặc tài chính thuộc địa.
Môn thi vấn đáp: các câu hỏi về chữ Quốc ngữ; trả lời câu hỏi bằng tiếng Pháp; đọc một cuốn sổ thuế bằng chữ Hán; câu hỏi về tập quán của nước An Nam liên quan đến quyền sở hữu và thừa kế.
Điều 14. Thí sinh thi lên ngạch cán sự chính ngạch hạng 2 phải đáp ứng chương trình thi tuyển sau:
Môn thi viết gồm: dịch xuôi và dịch ngược văn bản bằng chữ Quốc ngữ; câu hỏi về kinh tế chính trị theo quan điểm của các tác giả hiện đại; thảo luận về một vấn đề nào đó liên quan đến tổ chức, hành chính hoặc tài chính thuộc địa.
Môn thi vấn đáp: hội thoại bằng tiếng Việt với một người bản xứ; dịch một đoạn văn xuôi bằng chữ Quốc ngữ; dịch một cuốn sổ thuế sang chữ Hán; đọc hiểu một biên lai, giấy thông hành, hợp đồng cho thuê, giao kèo mua bán viết bằng chữ Hán.
Điều 15. Từ ngày 01-01-1877, chương trình thi này không áp dụng đối với thanh tra viên trở thành cán sự phụ theo quy định tại Sắc lệnh ngày 10-02.
Những cán sự phụ được bổ nhiệm sau khi ban hành sắc lệnh trên không được hưởng chương trình này mà phải tham dự các kì thi chuyên môn theo thứ hạng, theo quy định tại điều 31 của Sắc lệnh.
Phần V. Quy định chung
Điều 16. Vào ngày 10-01 hàng năm, một tiểu ban nhóm họp tại Sài Gòn để tiến hành kiểm tra các cán sự chính ngạch hạng 2 và 3 để được nâng lên hạng cao hơn. Tiểu ban này cũng là đơn vị tổ chức thi nâng ngạch cho các cán sự phụ, những người muốn trở thành cán sự chính ngạch theo điều 10 của Nghị định hiện hành.
Điều 17. Thí sinh gửi đơn dự thi trước ngày 15-12 hàng năm với điều kiện phải đủ 2 năm trong ngạch bậc, tính đến cuối năm đó.
Cán sự chính ngạch hạng 2 chỉ làm đơn xin dự thi, nếu có chứng chỉ năng lực nghiệp vụ về Luật, bằng Tú tài hoặc bằng Cử nhân Luật.
Điều 18. Những thí sinh thi đỗ được ghi tên vào danh sách riêng và được nâng lên hạng cao hơn.
Cán sự phụ hạng 2 và 3 được xếp hạng cùng lúc với cán sự chính ngạch theo điểm số đạt được trong kì thi.
Điểm 19. Bài thi được chấm điểm từ 0 đến 20. Hệ số mỗi môn thi quy định như sau:
Chữ Quốc ngữ
12
Giải thích các bài chính văn bằng chữ Hán
10
Tiếng Cao Miên
6
Hành chính An Nam
10
Xây dựng thực hành
6
Kinh tế chính trị
8
Lịch sử
6
Thực vật học
6
Điều 20. Thí sinh chỉ được công nhận thi đậu nếu đạt một nửa tổng số điểm trên toàn bộ bài thi. Thí sinh có câu trả lời hoặc bài thi bị điểm 0 sẽ bị loại.
Trong trường hợp này, cán sự tập sự bị hoãn thi trong vòng 6 tháng, những thí sinh khác tham dự ở kì thi sau.
6.      
Décision du 17 novembre 1874 du Contre - Amiral Gouverneur p.i de la Cochinchine règlementant le service de l’Instruction publique dans la colonie.
Quyết định ngày 17-11-1874 của Chuẩn đô đốc, quyền Thống đốc Nam Kì về việc đặt quy chế cho ngành học chính tại Nam Kì.
(Nguồn: J 973, Courrier de Saigon, No 23 du 5 décembre 1874)
Quyết định gồm 4 phần, 23 điều:
Phần I. Quy định chung
Điều 1. Tại các trường thuộc địa, chương trình giảng dạy cho người châu Á hoàn toàn miễn phí và mang tính tự nguyện.
Điều 2. Đội ngũ giáo viên tiểu học người Âu và người bản xứ phụ trách giảng dạy phải đáp ứng các tiêu chuẩn về đạo đức và năng lực.
Điều 3. Trường tư thục chỉ được mở khi chính quyền cho phép. Bất kì cá nhân nào xin cấp phép mở trường đều phải đáp ứng điều kiện về đạo đức và năng lực theo quy định.
Tất cả các trường tư thục đều đặt dưới sự giám sát của chính quyền.
Điều 4. Các trường công lập đã thành lập và hoạt động hợp pháp tại thuộc địa được miễn quy định về giấy phép như tại điều 3 gồm:
- Trường của Hội Thừa sai và các trường phụ thuộc;
- Trường Tabert do các giáo sĩ thành lập tại Sài Gòn;
- Trường Adran (Trường Bá Đa Lộc) và những trường học khác do các thầy dòng Cơ đốc giáo điều hành;
- Một số trường nữ sinh do các nữ tu Saint Paul de Chartre điều hành;
- Trường tỉnh Sài Gòn.
Những trường học này chịu sự giám sát của chính quyền. Ngoài ra, miễn quy định về giấy phép đối với các trường tiểu học tư thục dạy chữ Hán tại các làng. Ngoài việc dạy chữ Hán, giáo viên giảng dạy tại các trường trên còn dạy thêm chữ La-tinh và hưởng tiền thưởng 200 phơ-răng/năm.
Điều 5. Giám đốc Nội chính điều hành Sở Học chính Nam Kì cũng như các viên chức và nhân viên của Sở.
Tại những tiểu khu hành chính có các trường tiểu học, quan cai trị phụ trách công việc bản xứ giám sát các trường tiểu học đó dưới sự chỉ đạo của Giám đốc Nội chính. Ngoài ra, quan cai trị còn phụ trách một số công việc sau:
- Thường xuyên thanh, kiểm tra các trường học trên;
- Yêu cầu hiệu trưởng, giáo viên cung cấp thông tin, nếu xét thấy cần thiết.
- Không tự ý ra chỉ thị hay làm thay đổi chế độ hoạt động của các trường học, trừ khi Giám đốc Nội chính cho phép.
- Trình Giám đốc Nội chính bản báo cáo đặc biệt theo quý.
- Kí quyết định tiếp nhận, đuổi học học sinh hay ban hành quyết định xử phạt đối với giáo viên bản xứ.
Những quy định trên không áp dụng đối với trường bản xứ đặt dưới quyền điều hành và giám sát trực tiếp của Giám đốc Nội chính.
Điều 6. Quyết định thành lập một uỷ ban thường trực chịu trách nhiệm nghiên cứu các vấn đề liên quan đến học chính và thanh tra các trường học, với thành phần như sau:
- Giám đốc Nội chính hoặc Tổng thư kí: Chủ tịch;
- Các thanh tra công việc bản xứ;
- Quan cai trị Sài Gòn;
- Quan cai trị Chợ Lớn;
- Cha xứ Sài Gòn;
- Chánh văn phòng Nha Nội chính;
- Hiệu trưởng trường bản xứ;
- Ông Pétrus Trương Vĩnh Ký, giáo viên tiếng phương Đông.
- Một thông ngôn chính.
Điều 7. Uỷ ban thường trực đề nghị với Giám đốc Nội chính về thành phần uỷ ban đặc biệt phụ trách sát hạch học sinh của các trường tiểu học và thí sinh dự thi lấy các loại văn bằng, chứng chỉ.
Điều 8. Chương trình giáo dục ở Nam Kì do các trường tiểu học đặt tại trung tâm của các tiểu khu hành chính và một trường trung học hoặc một trường bản xứ đặt tại Sài Gòn đảm nhiệm.
Phần II. Giáo dục tiểu học
Điều 9. Về nguyên tắc, các trường dạy chữ La-tinh tại thuộc địa phải đóng cửa. Học sinh đang theo học trường này nếu có nguyện vọng sẽ được theo học tại các trường tiểu học giảng dạy theo chương trình phù hợp.
Tạm thời, chỉ có các trường tiểu học thành lập tại Sài Gòn, Chợ Lớn, Mĩ Tho, Vĩnh Long, Bến Tre, Sóc Trăng được mở cửa. Ở những tiểu khu khác, trường dạy chữ La-tinh của các làng sáp nhập thành một trường đặt tại huyện lị và tiếp tục hoạt động cho tới khi có hướng dẫn mới.
Điều 11. Tổ chức nhân sự của các trường tiểu học thành lập tại huyện lị được quy định như sau:
1. Một hiệu trưởng người Âu được chọn trong số thông ngôn hạng 1, các thư kí Nha Nội chính có ít nhất bằng tú tài văn chương hoặc khoa học, nếu không, phải chứng minh năng lực trước một uỷ ban được thành lập cho vấn đề này. Ứng viên phải biết tiếng An Nam và chữ Quốc ngữ.
Quyền hạn của hiệu trưởng các trường tiểu học trên do chính quyền quy định.
2. Các giáo viên tiểu học bản xứ biết tiếng Pháp, số lượng tuỳ thuộc quy mô của từng trường.
Điều 12. Học sinh theo học tại các trường tiểu học với tư cách là học sinh nội trú hoặc ngoại trú tùy theo nguyện vọng của bản thân hoặc của cha mẹ.
Việc tuyển sinh do quan cai trị tiểu khu hành chính quyết định và chỉ được tiến hành khi năm học mới bắt đầu.
Học sinh nội trú hưởng trợ cấp ăn, mặc 10 phơ-răng/tháng trích từ ngân sách thuộc địa. Số học bổng dành cho mỗi trường được quy định hàng năm trong ngân sách. Thời gian học là 3 năm. 10 học sinh xuất sắc nhất của mỗi lớp được ghi danh trên bảng danh dự tại phòng trưng bày của mỗi trường.
Điều 13. Cuối mỗi năm học, học sinh năm thứ 3 của các trường tiểu học tham dự kì thi chung.
Nội dung các môn thi đề cập tới kiến thức đã học tại các trường tiểu học. Học sinh trường tư thục có quyền dự thi với điều kiện đăng kí đúng hạn.
Điều 14. Kì thi gồm các môn thi viết và thi vấn đáp. Môn thi viết do uỷ ban chấm và việc xếp hạng do Nha Nội chính thực hành. Kết quả được công bố trên Gia Định báo. Nếu có nguyện vọng đặc biệt và được hội đồng cho phép, những học sinh xếp hạng đầu được nhận vào học tại trường trung học bản xứ Sài Gòn. Những học sinh khác nếu đủ điểm đỗ sẽ được hội đồng thi cấp chứng nhận, có thể được bổ dụng vào chức danh thấp trong các chính quyền ở thuộc địa với mức lương không quá 360 phơ-răng/năm.
Phần III. Giáo dục trung học
Điều 15. Quyết định bãi bỏ Trường Sư phạm Sài Gòn.
Trường trung học bản xứ được thành lập để giảng dạy chương trình trung học trong 3 năm. Học sinh trường bản xứ tuân thủ chế độ nội trú và được chu cấp hoàn toàn về chi phí ăn mặc 20 phơ-răng/tháng/học sinh trích từ ngân sách địa phương. Học sinh ngoại trú được phép theo học nếu đáp ứng các điều kiện thi cử và xếp hạng như quy định trên đây.
Chỉ tiêu tuyển sinh học sinh nội trú do uỷ ban khảo thí quy định từng năm nhưng không quá 100 học sinh/năm.
Trường bản xứ do một viên chức người Âu điều hành đồng thời quản lí các giáo viên trực thuộc là người Âu và người bản xứ.
Điều 16. Vào cuối năm học sẽ có một kì thi liên quan đến các môn đã học. Học sinh không đủ điều kiện sẽ bị đuổi học, trừ những học sinh vắng mặt vì lí do sức khoẻ có giấy chứng nhận và những học sinh được phép lưu ban. 10 học sinh đứng đầu bảng xếp hạng sau kì thi được ghi danh trên bảng danh dự tại văn phòng của trường.
Điều 17. Học sinh thi tốt nghiệp vào cuối năm thứ 3. Học sinh thi đỗ được cấp bằng tú tài theo quy định tại các điều 3 và 5 của Nghị định ngày 08-04-1874. Học sinh trường tư thục có thể tham dự kì thi trên.
Điều 18. Học sinh đạt điểm cao trong kì thi được cử sang Pháp để hoàn tất việc học. Mọi chi phí do thuộc địa chi trả.
Điều 19. Từ ngày 01-01-1879, bằng tú tài là điều kiện cần thiết để được bổ dụng làm giáo viên tiểu học (lương 600 phơ-răng), thư kí, thông ngôn và nho sĩ trợ tá  hạng 1 (lương 1.000 phơ-răng/năm) như quy định tại các điều 3 và 5 của Nghị định ngày 08-4-1874.
7.      
Décision du 17 novembre 1874 du Contre-Amiral Gouverneur p.i de la Cochinchine fixant le programme de l’enseignement public.
Quyết định ngày 17-11-1874 của Chuẩn Đô đốc, quyền Thống đốc Nam Kì quy định chương trình giáo dục công.
(Nguồn: J 973, Courrier de Saigon, No 23 du 5 décembre 1874)
Quyết định gồm 3 điều:
Chương trình giáo dục công tại Nam Kì được quy định như sau:
* Giáo dục tiểu học
Học đọc và viết chữ Quốc ngữ, chữ Hán, tiếng Pháp, số học sơ cấp, hình học sơ đẳng, khái niệm đo đạc sơ đẳng, khái niệm chung về địa lí và lịch sử.
* Giáo dục trung học
Lí luận tiếng Pháp, khái niệm cơ sở về văn học Pháp, tập làm văn bằng tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ, chữ Hán, khái niệm chung về lịch sử cổ đại và hiện đại trong đó đề cập đến vai trò của nước Pháp, địa lí đại cương, khái niệm về vũ trụ học, số học theo chương trình do uỷ ban cấp cao quy định, khái niệm cơ sở về đại số, hình học, đơn vị đo diện tích và thể tích, đo đạc và vẽ sơ đồ, vật lí và hoá học sơ cấp, khái niệm lịch sử tự nhiên, quản lí sổ sách, vẽ.
Mỗi năm, uỷ ban Học chính cấp cao quy định chi tiết chương trình học cho các trường tiểu học và trung học theo quy định trên đây.
8.      
Décision du 17 novembre 1874 du Contre- Amiral Gouverneur p.i de la Cochinchine fixant les cadres du personnel enseignant.
Quyết định ngày 17-11-1874 của Phó Đốc đốc, quyền Thống đốc Nam Kì quy định các ngạch công chức của nhân sự giảng dạy.
(Nguồn: J 973, Courrier de Saigon, No 23 du 5 décembre 1874)
Quyết định gồm 4 điều:
Ngạch công chức của nhân sự người Âu và người bản xứ làm việc tại các trường học ở Nam Kì quy định như sau:
Trường bản xứ

Nhân sự người Âu
1 hiệu trưởng
Lương: 6.000 phơ-răng
6 giáo viên
Lương: 3.600 phơ-răng + 1.060 phơ-răng trợ cấp ăn ở


Nhân sự bản xứ
2 giáo viên chữ Hán
Lương: 1.000 phơ-răng
2 giáo viên tiểu học bản xứ hạng 1
Lương: 1.000 phơ-răng
1 giáo viên tiểu học bản xứ hạng 2
Lương: 600 phơ-răng
Trường tiểu học

Nhân sự người Âu
6 hiệu trưởng
Lương: 3.600 phơ-răng + 1.060 phơ-răng trợ cấp ăn ở


Nhân sự bản xứ
6 giáo viên chữ Hán
Lương: 600 phơ-răng
6 giáo viên tiểu học bản xứ hạng 1
Lương: 1.000 phơ-răng
12 giáo viên tiểu học bản xứ hạng 2
Lương: 600 phơ-răng
Trường học tại các tiểu khu
Nhân sự bản xứ
14 giáo viên chữ Hán
Lương: 600 phơ-răng
14 giáo viên tiểu học hạng 2
Lương: 600 phơ-răng
Nhân sự tạp vụ của trường bản xứ gồm:
- Một bảo vệ kiêm nhân viên chạy giấy hưởng lương 720 phơ-răng;
- Một đầu bếp hưởng lương 400 phơ-răng;
- Bốn lao công hưởng lương 480 phơ-răng.
Tổng chi phí cho nhân viên tạp vụ là 102.160 phơ-răng.
Số suất học bổng cấp cho mỗi trường học tại Nam Kì như sau:
- 5 suất học bổng tại Pháp, mỗi suất trị giá 1.100 phơ răng;
- 100 suất học bổng ở trường bản xứ, mỗi suất trị giá 240 phơ-răng;
- 540 suất học bổng cho 6 trường tiểu học, mỗi suất trị giá 120 phơ-răng (mỗi trường tiểu học được cấp 90 suất).
Tổng giá trị học bổng: 94.300 phơ-răng.
9.      
Arrêté No 55 du 17 mars 1879 du Gouverneur et Commandant en chef portant nouvelle organisation du service de l’instruction publique en Cochinchine.
Nghị định số 55 ngày 17-3-1879 của Thống đốc Nam Kì về việc tổ chức Sở Học chính Nam Kì.
(Nguồn: J 36, BOC 1879, tr. 85-100)
Nghị định gồm 7 phần, 47 điều, trong đó có:
Phần I. Các trường học
Điều 1. Về nguyên tắc, chương trình giáo dục công tại Nam Kì hoàn toàn miễn phí và mang tính tự nguyện tại các trường học.
Điều 2. Trường tư thục chỉ được mở khi chính quyền cho phép. Bất kì cá nhân nào xin giấy phép mở trường đều phải đáp ứng điều kiện về đạo đức và năng lực theo quy định. Trường tư thục chịu sự giám sát của chính quyền.
Điều 3. Các trường công lập đã thành lập và hoạt động hợp pháp tại thuộc địa được miễn giấy phép theo quy định tại điều 2, gồm:
-  Trường của Hội thừa sai và những trường phụ thuộc;
- Trường Tabert do các giáo sĩ thành lập tại Sài Gòn;
- Trường Adran (trường Bá Đa Lộc) và những trường khác do các thầy dòng Cơ đốc giáo điều hành;
- Một số trường nữ sinh do các nữ tu dòng Saint Paul de Sartre điều hành;
- Trường tỉnh Sài Gòn và các trường tư dành cho nam nữ sinh.
Những trường này chịu sự kiểm soát của chính quyền. Ngoài ra, miễn giấy phép đối với các trường tiểu học dạy chữ Hán đã hoặc sẽ mở tại các làng. Quan cai trị, Thanh tra các công việc nội chính bản xứ và Chánh Sở Học chính chịu trách nhiệm kiểm tra những trường tiểu học trên.
Ngoài chữ Hán, giáo viên các trường học này còn dạy chữ La-tinh và khái niệm về tiếng Pháp và hưởng tiền thưởng theo số lượng và học lực của học sinh.
Điều 4. Xoá bỏ hệ thống trường tiểu học và trường trung học thành lập theo Nghị định ngày 17-11-1874 và thay bằng các trường cấp 1, 2 và 3.
Điều 5. Tại mỗi trung tâm như: Khu thanh tra Sài Gòn, Chợ Lớn, Mĩ Tho, Sóc Trăng, Bến Tre, Biên Hoà, Long Xuyên, Gò Công, Trảng Bàng, Cần Thơ, Trà Vinh, Sa Đéc, Tân An, Châu Đốc, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Rạch Giá, Hà Tiên và Cái Bè, cho mở một trường cấp 1.
Trường cấp 2 cũng được mở tại các trung tâm như: Khu thanh tra Sài Gòn, Chợ Lớn, Mĩ Tho, Vĩnh Long, Sóc Trăng và Bến Tre.
Điều 6. Trường Chasseloup - Laubat chuyển thành trường cấp 3. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi lệnh mới, tạm thời, trường vẫn tiếp tục dạy chương trình cấp 2.
Điều 7. Tại những trung tâm có cả trường cấp 1 và 2 trong cùng toà nhà, những trường học này chịu sự quản lí của cùng một hiệu trưởng. Các lớp tiếng Pháp có chung giáo viên giảng dạy ở cả hai cấp, tuỳ theo nhu cầu công việc.
Điều 8. Những trường do các tu sĩ Cơ đốc giáo quản lí trở thành trường cấp 1 và cấp 2. Trường Adran đào tạo học sinh ở cả 3 cấp học.
Phần II. Điều kiện tuyển sinh
Điều 9. Những trường do giáo viên Pháp điều hành nhận cả học sinh nội và ngoại trú. Trường do giáo viên bản xứ quản lí chỉ nhận học sinh ngoại trú.
Điều 10. Học sinh nội trú được chu cấp chi phí ăn mặc. Ngoài số học sinh nhận học bổng, trường còn tuyển học sinh nội trú có đóng học phí.
Điều 11. Học sinh chỉ theo học tại một trong những trường ở Nam Kì, với tư cách là học sinh nội trú hoặc ngoại trú, nếu thi đậu kì thi tuyển. Kì thi diễn ra vào cuối mỗi năm học trong điều kiện quy định dưới đây:
Điều 12. Kì thi tuyển sinh vào trường cấp 1:
Kì thi diễn ra tại những trung tâm có trường cấp 1. Thí sinh bắt buộc phải biết chữ Hán. Chữ Quốc ngữ không mang tính bắt buộc nhưng là điều kiện để xếp loại thí sinh.
Thí sinh đăng kí tại văn phòng tham biện sở tại, nộp đơn xin dự thi có chữ kí của phụ huynh trong đó có nêu tên trường mà thí sinh muốn thi tuyển. Đơn dự thi cũng như danh sách thí sinh được chuyển tới Giám đốc Nha Nội chính.
Thí sinh xin học bổng tuổi từ 10 đến 14.
Điều 13. Kì thi tuyển sinh vào trường cấp 2:
Kì thi diễn ra tại những trung tâm có trường cấp 2. Nội dung thi đề cập tới tất cả các môn học ở cấp 1. Thủ tục đăng kí giống như thủ tục dự thi vào trường cấp 1. Học sinh trường tư thục cũng có quyền dự thi. Ngoài ra, thí sinh xin học bổng phải đủ 12 tuổi và không quá 17 tuổi.
Điều 14. Đối với kì thi tuyển sinh vào trường cấp 3.
Kì thi diễn ra tại Sài Gòn dành cho học sinh đã tốt nghiệp cấp 2. Thí sinh xin học bổng độ tuổi từ 14 đến 20.
Thể lệ dự thi giống như đối với trường cấp 1. Bất kì cá nhân nào cũng có quyền dự thi với điều kiện đăng kí đúng hạn. Ngoại trừ thí sinh xin học bổng, học sinh ngoại trú và học sinh đóng học phí được miễn điều kiện về tuổi ở cả ba cấp học.
Phần III. Chứng chỉ nghiệp vụ
Điều 15. Có hai loại chứng chỉ nghiệp vụ: bằng sơ đẳng và bằng cao đẳng.
Bằng sơ đẳng cấp cho thí sinh thi đậu kì thi tuyển sinh vào trường cấp 3.
Kì thi lấy bằng cao đẳng diễn ra tại Sài Gòn vào cuối năm học, đề cập tới các môn học ở cấp 3. Cá nhân nào cũng có quyền dự thi với điều kiện đăng kí đúng hạn.
Những người có bằng sơ đẳng được bổ dụng vào chức vụ thấp hơn trong chính quyền thuộc địa, trừ nho sĩ, thông ngôn và thư kí chính ngạch làm việc tại Nha Nội chính và các ban thanh tra có thể được sử dụng làm giáo viên tiểu học hạng cuối cùng và thư kí, thông ngôn và nhà nho không chính ngạch hạng cuối cùng. Những người có bằng cao đẳng có thể làm thông ngôn, thư kí, nho sĩ chính ngạch, giáo viên bản xứ.
Thí sinh đạt điểm cao ở kì thi lấy bằng cao đẳng được gửi sang Pháp để hoàn tất chương trình học bằng nguồn kinh phí của thuộc địa.
Điều 16. Xoá bỏ chứng chỉ nghiệp vụ. Tuy nhiên, những người đang sở hữu chứng chỉ này có quyền thi tuyển vào các vị trí cho đến ngày 01-01-1883. Bằng sơ đẳng là điều kiện cần thiết để được bổ dụng làm giáo sư, theo Quyết định ngày 17-11-1874.
Từ ngày 01-01-1883, ứng viên thi tuyển vào chính quyền thuộc địa phải có bằng sơ đẳng hoặc bằng cao đẳng, theo quy định của Nghị định hiện hành.
Phần IV. Hình thức thi tuyển
Điều 17. Kì thi đề cập tại điều 11 và những điều dưới đây gồm thi viết và thi vấn đáp.
Đối với phần thi viết, Hội đồng Học chính tại Sài Gòn gửi câu hỏi tới các trung tâm tổ chức thi. Kì thi các cấp diễn ra trong cùng một ngày.
Phần thi vấn đáp:
Để vào trường cấp 1, thí sinh thi vấn đáp trước một tiểu ban khảo thí với thành phần như sau: Giám đốc Nha Nội chính - chủ tịch; 2 giáo viên trường Thế tục dành cho thí sinh thế tục, hoặc 2 giáo viên trường Giáo đoàn dành cho thí sinh giáo đoàn.
Đối với trường cấp 2, thí sinh thi vấn đáp trước một tiểu ban khảo thí với thành phần như sau: Giám đốc Nha Nội chính - chủ tịch; hiệu trưởng; 2 giáo viên trường Thế tục dành cho thí sinh thế tục, hoặc 2 giáo viên trường Giáo đoàn dành cho thí sinh giáo đoàn.
Kì thi lấy bằng sơ đẳng và vào trường cấp 3 diễn ra trước thành viên Hội đồng Học chính thường trực, với sự trợ giúp của các giám khảo do hội đồng chỉ định.
Các tiểu ban khảo thí có trách nhiệm gửi danh sách xếp hạng thí sinh lên Giám đốc Nha Nội chính. Kết quả được công bố trên báo Gia Định.
Điều 18. Nếu không đạt điểm trung bình, thí sinh thi lấy bằng sơ đẳng và cao đẳng không được dự thi vấn đáp và thi lại ở năm sau.
Điều 19. Học sinh thi trượt ở kì thi cuối năm chỉ được học lại khi Giám đốc Nha Nội chính chấp thuận.
Phần V. Chương trình giảng dạy
Điều 20. Tại Nam Kì, chương trình giảng dạy và thời gian học tại các cấp quy định như sau:
Trường cấp 1, hệ 3 năm:

Lớp tiếng Pháp
Khái niệm về tiếng Pháp
Số học: 4 phép tính, hệ mét, tương quan hệ thống đo lường Pháp - Việt

Lớp chữ Hán  và Quốc ngữ
Tứ thư
Tập đọc và tập tường thuật bằng chữ Quốc ngữ.
Trong năm thứ 3, giáo viên chú trọng tới tiếng Pháp nói và có thể đưa bộ môn này vào chương trình của lớp tiếng Pháp.
Các lớp học phân chia theo tỉ lệ như sau: 3 lớp tiếng Pháp, 2 lớp chữ Hán và Quốc ngữ.
Trường cấp 2, hệ 3 năm:




Lớp tiếng Pháp
Tiếng Pháp: văn phạm, tập đọc, tập viết, tường thuật, luận, dịch ngược, dịch xuôi, đặc biệt là dịch từ chữ Quốc ngữ sang tiếng Pháp và tập nói
Số học: 4 phép tính, phân số, quy tắc tam suất, phép chiết khấu, phép tính lợi tức
Hình học: đo diện tích và thể tích
Địa lí: khái quát về 5 châu, đặc biệt là địa lí nước Pháp và các thuộc địa của Pháp
 Vẽ

Lớp chữ Hán và Quốc ngữ
Tứ thư
Luận, bài tập tường thuật bằng chữ Hán hoặc chữ Quốc ngữ
Lịch sử và địa lí An Nam
Hàng tuần, có 2 lớp dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ, những lớp còn lại dạy tiếng Pháp.
Các trường cấp 3, hệ 3 năm:






Lớp tiếng Pháp
Tiếng Pháp
Số học
Hình học phẳng
Đại số
Lượng giác
Kĩ thuật đo đạc
Vẽ
Quản lí sổ sách
Địa lí
Vũ trụ học
Hoá học
Vật lí
Lịch sử tự nhiên

Lớp chữ Hán và Quốc ngữ
Tứ thư
Nghiên cứu các kiểu văn bản của người An Nam (hợp đồng v.v...)
Lịch sử và địa lí An Nam
Mỗi tuần có một lớp dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ, những lớp còn lại dạy tiếng Pháp.
Điều 21, 22. Chương trình giảng dạy cho mỗi năm học ở cả 3 cấp cũng như tổng điểm quy định để nhận học sinh do Hội đồng Học chính cao cấp quy định.
Phần VI. Nhân sự Sở Học chính
Điều 23. Giáo viên người Pháp và người An Nam phụ trách giảng dạy tại các trường phải có đủ tư cách đạo đức và đáp ứng điều kiện về năng lực theo quy định nêu trong Nghị định hiện hành.
10 Nhân sự giảng dạy người Pháp
Điều 24. Nhân sự người Pháp gồm: Chánh Sở Học chính, hiệu trưởng và các giáo sư.
Điều 25. Chánh Sở Học chính tập trung và chỉ đạo công việc theo lệnh của Giám đốc Nha Nội chính. Ngoài ra, Chánh Sở còn đảm nhiệm một số công việc sau:
- Kiểm soát tất cả các trường học tại Nam Kì, chủ yếu là những trường được duy trì hoặc tài trợ bằng ngân sách địa phương; thanh tra các trường học theo định kì; thăm dò ý kiến của học sinh cũng như báo cáo về sự tiến bộ, thái độ và nhu cầu của họ; thanh tra trang thiết bị, sách vở và đồ dùng học tập;
- Đảm bảo rằng hiệu trưởng và giáo viên các trường làm tròn bổn phận, tuân thủ các chỉ thị của Chánh Sở, áp dụng đúng chương trình và cư xử đúng mực với học sinh;
- Sau mỗi chuyến công tác, Chánh Sở Học chính Nam Kì gửi báo cáo lên Giám đốc Nha Nội chính, đưa ra nhận xét và đề xuất để giải quyết công việc;
- Trình Giám đốc Nha Nội chính báo cáo tổng hợp về tình hình và diễn tiến công việc của Sở Học chính sau mỗi quý.
Hiệu trưởng, giáo sư, giáo viên tiểu học người Âu và người bản xứ chịu sự chỉ đạo của Chánh Sở Học chính. Chánh Sở có quyền phạt cảnh cáo đối với nhân sự người Âu và phạt cảnh cáo, giữ 4 ngày lương đối với nhân sự bản xứ.
Đối với những lỗi vi phạm nghiêm trọng, Giám đốc Nha Nội chính là người đưa ra quyết định xử lí.
Điều 26. Được lựa chọn trong số giáo sư theo quy định tại điều 29, hiệu trưởng các trường chịu trách nhiệm trước Chánh Sở Học chính về những việc sau:
- Chỉ đạo tổ chức chương trình học;
- Chăm lo đời sống, thái độ của học sinh;
- Quản lí tài sản và đảm bảo vệ sinh trong trường học;
- Phụ trách trang thiết bị, giáo trình giảng dạy, đồ dùng học tập và hoạt động kế toán khi không có người quản lí chi tiêu;
- Quản lí giáo sư và giáo viên tiểu học dưới quyền;
- Trình báo cáo tháng lên Chánh Sở Học chính theo mẫu quy định do Giám đốc Nha Nội chính ban hành.
Điều 27. Dưới quyền kiểm soát và giám sát của hiệu trưởng, giáo sư chịu trách nhiệm giảng dạy, hỗ trợ hiệu trưởng trong hoạt động giảng dạy và an ninh trong trường.
Điều 28. Tiền lương, cách thức nâng bậc và thứ bậc của giáo viên Pháp biệt phái của Sở Học chính quy định như sau:
Chánh Sở Học chính
12.000 (phơ-răng)
Giáo sư hạng 1
8.000    
Giáo sư hạng 2
7.000      
Giáo sư hạng 3
6.000      
Giáo sư hạng 4
5.000     
Giáo sư tập sự
3.600      
Điều 29. Để được bổ dụng làm giáo sư tập sự, ứng viên phải có bằng cao đẳng tiểu học của Chính quốc hoặc văn bằng có giá trị tương đương.
Để trở thành giáo sư hạng 4, ứng viên phải giảng dạy tại Nam Kì với tư cách là giáo sư tập sự trong thời gian tối thiểu 1 năm và thi đậu kì thi phụ tá thông ngôn.
Việc nâng hạng cho giáo sư chỉ diễn ra sau ít nhất 2 năm làm việc tại hạng và công tác tại Nam Kì trong thời gian tối thiểu 1 năm.
Hiệu trưởng các trường được lựa chọn trong số giáo sư do Giám đốc Nha Nội chính bổ nhiệm, theo đề xuất của Chánh Sở Học chính.
Với cương vị này, hiệu trưởng trường cấp 2 và cấp 1 lần lượt hưởng phụ cấp lương trị giá 500 phơ-răng và 250 phơ-răng/năm.
Điều 30. Hình thức kỉ luật áp dụng đối với giáo sư gồm: phạt cảnh cáo, khiển trách, treo chức, cách chức.
Điều 31. Đội ngũ giáo sư hiện tại vẫn giữ nguyên chức vụ. Việc nâng ngạch chỉ diễn ra đối với giáo sư đáp ứng điều kiện về bằng cấp theo quy định nêu trong Nghị định hiện hành hoặc thi lấy bằng cao đẳng tiểu học trước một tiểu ban khảo thí đặc biệt.
20 Nhân sự giảng dạy người bản xứ
Điều 32. Tiền lương, cách thức nâng bậc và thứ bậc của giáo sư bản xứ biệt phái của Sở Học chính quy định như sau:
Giáo sư hạng 1
2.400 (phơ-răng)
Giáo sư hạng 2
2.200
Giáo sư hạng 3
2.000
Giáo sư hạng 4
1.800
Giáo viên tiểu học hạng 1
1.400
Giáo viên tiểu học hạng 2
1.200
Giáo viên tiểu học hạng 3
1.000
Điều 33. Để trở thành giáo viên Sở Học chính, ứng viên phải đủ 21 tuổi, có bằng sơ đẳng và tư cách đạo đức tốt. Tuy nhiên, từ ngày 01-01-1883, chứng chỉ nghiệp vụ được thay bằng bằng sơ đẳng.
Sau 1 năm công tác, giáo viên tiểu học có thể được nâng lên hạng cao hơn. Việc nâng hạng diễn ra trong điều kiện quy định tại điều 29 đối với giáo sư người Âu.
Điều 34. Để được bổ dụng làm giáo sư hạng 4, ứng viên phải có bằng cao đẳng. Từ ngày 01-01-1883, những giáo viên tiểu học hạng 1, không có tấm bằng này được bổ nhiệm làm giáo sư hạng 4, nếu thi đậu kì thi quy định tại điều 13 và các quy định tại điều 5 trong Quyết định ngày 07-02-1876.
Các giáo sư hạng 3 và 4 được nâng lên hạng cao hơn, sau 2 năm công tác tại ngạch trong điều kiện quy định tại điều 29.
Giáo sư hạng 2 và 3 có quyền thi lên ngạch giáo sư hạng 1, theo chương trình quy định tại điều 16 trong Quyết định ngày 07-02-1876.
Kì thi lên ngạch giáo sư hạng 1 diễn ra hàng năm vào cùng thời điểm như kì thi thông ngôn, nho sĩ và thư kí trước một hội đồng khảo thí đặc biệt.
Điều này tương tự như kì thi dành do ứng viên thi lên hạng 4, trong điều kiện quy định tại §1 của điều khoản này cho đến ngày 01-01-1883, thời điểm chính thức xoá bỏ các kì thi này.
Điều 35. Chỉ những giáo sư hạng 1 mới được bổ dụng để giảng dạy cấp 2 và 3.
Việc bổ dụng giáo sư tại Trường Chasseloup - Laubat và trường cấp 3 diễn ra sau kì thi tuyển giữa các giáo sư ở hạng này, với môn thi tương tự như đối với kì thi giáo sư hạng 1. Việc bổ dụng diễn ra theo thứ hạng được lập sau kì thi. Danh sách thứ hạng có giá trị trong vòng 1 năm.
Giáo sư biệt phái tại trường cấp 3 hưởng phụ cấp từ 200 đến 600 phơ-răng/năm.
Điều 36. Hình thức kỉ luật áp dụng đối với giáo sư và giáo viên tiểu học bản xứ bao gồm: phạt cảnh cáo, khiển trách, giữ lương tối đa trong vòng 15 ngày, giáng chức, treo chức, cách chức.
Điều 37. Giáo sư bản xứ hạng 1 có quyền thi lên ngạch giáo sư tập sự với tư cách là công dân Pháp, với điều kiện có chứng chỉ nghiệp vụ liên quan đến vị trí này.
Giáo sư bản xứ mang tư cách là công dân Pháp hưởng các điều kiện nâng lương và thứ bậc như giáo sư người Pháp.
Điều 38. Đối với những bậc đòi hỏi một kì thi trước đó, việc nâng bậc diễn ra theo danh sách xếp hạng do hội đồng khảo thí lập, có tính đến điểm số đặc biệt dựa trên giá trị đạo đức và nghề nghiệp, được chấm từ 0 đến 20, trong đó hệ số quy định là 10. Chánh Sở Học chính là người đưa ra hệ số điểm này.
Phần VII. Nhân sự giảng dạy
Điều 39. Hàng năm, vào thời điểm lập ngân sách, nhân sự giảng dạy của Sở Học chính Nam Kì được ấn định theo số trường và số học sinh, theo quy định dưới đây:
10 Các trường cấp 1 gồm có: 1 giáo sư người Pháp hoặc mang tư cách công dân Pháp, hiệu trưởng và 2 giáo sư hoặc giáo viên tiểu học bản xứ, trong đó có 1 giáo sư dạy chữ Quốc ngữ, 1 giáo sư hỗ trợ hiệu trưởng trong việc dạy tiếng Pháp. Trường hợp thiếu giáo sư người Pháp hoặc mang tư cách công dân Pháp, các lớp tiếng Pháp sẽ do một giáo sư bản xứ đảm nhiệm và người này giữ chức hiệu trưởng.
20 Các trường cấp 2 gồm: 2 giáo sư Pháp hoặc mang tư cách công dân Pháp phụ trách các lớp tiếng Pháp, trong đó 1 người giữ chức hiệu trưởng. Ngoài ra, còn có thêm 1 giáo sư hoặc giáo viên tiểu học bản xứ phụ trách dạy chữ Quốc ngữ.
30 Các trường cấp 3: 3 giáo sư người Pháp phụ trách dạy tiếng Pháp, 1 giáo sư bản xứ dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ, 1 giáo sư dạy vẽ.
Giáo sư hoặc giáo viên tiểu học bản xứ đóng vai trò là người phụ tá cho giáo sư người Pháp tại những trường học khác.
Điều 40. Danh sách nhân sự tại các trường được ấn định tuỳ theo số lượng học sinh của mỗi năm học thấp hơn hoặc bằng 45 người. Khi con số này cao hơn 45 nhưng dưới 90 người, số giáo sư phải tăng lên gấp đôi và nói chung, mỗi nhóm có tối thiểu là 30 học sinh và tối đa là 45 sẽ được tăng thêm một nhóm giáo sư.
Số lượng giáo sư chữ Hán và chữ Quốc ngữ được xác định theo tỉ lệ 1 giáo sư cho mỗi nhóm tối thiểu gồm 50 học sinh và tối đa là 75 học sinh. Nhóm gồm 45 học sinh sẽ có 1 thầy đồ.
Hội đồng Học chính cao cấp
Điều 42. Quyết định thành lập một hội đồng học chính cao cấp chịu trách nhiệm nghiên cứu các vấn đề liên quan đến học chính và thanh tra các trường học. Hội đồng nhóm họp ít nhất 3 tháng/lần và biên bản họp do Giám đốc Nha Nội chính trình lên Thống đốc.
Thành phần của Hội đồng quy định như sau:
- Chủ tịch: Giám đốc Nha Nội chính, hoặc nếu thiếu thay bằng Tổng thư kí;
- Các thành viên gồm: Đốc lí thành phố Sài Gòn; Chánh Sở Học chính; các thanh tra công việc nội chính bản xứ; quan cai trị Sài Gòn và Chợ Lớn; Hiệu trưởng Trường Chasseloup - Laubat; Hiệu trưởng Trường Adran; cha xứ Sài Gòn; 1 bác sĩ hải quân do Chánh Sở Y tế chỉ định; 1 giáo sư bản xứ dạy tiếng phương Đông; 1 thông ngôn chính người Âu; Chánh Văn phòng Nha Nội chính.
Điều 44. Hội đồng Học chính cao cấp chịu trách nhiệm đề xuất lên Giám đốc Nội chính về thành phần tiểu ban khảo thí phụ trách sát hạch học sinh các cấp học và thí sinh dự thi lấy văn bằng, chứng chỉ.
Hội đồng lập danh sách nâng bậc theo quy định tại điều 29, 33 và 34.
Hoạt động giám sát trường học về phương diện hành chính.
Điều 45. Tại những địa hạt có các trường cấp 1, 2 và 3, tham biện sở tại chịu trách nhiệm quản lí về phương diện hành chính đối với các trường học đó, dưới sự điều hành của Giám đốc Nha Nội chính. Ngoài ra, tham biện còn phụ trách một số công việc sau:
- Thường xuyên thanh kiểm tra các trường học trên;
- Yêu cầu hiệu trưởng, giáo sư, giáo viên tiểu học cung cấp thông tin cần làm rõ, nếu xét thấy cần thiết;
- Không tự ý thay đổi chế độ hoạt động của các trường học, trừ khi Giám đốc Nha Nội chính cho phép;
- Trình Giám đốc Nha Nội chính bản báo cáo đặc biệt theo quý;
- Kí quyết định đuổi học đối với học sinh, đồng thời báo cáo sự việc lên Giám đốc Nha Nội chính.
Những quy định này không áp dụng đối với Trường Chasseloup - Laubat do trường này chịu sự kiểm soát trực tiếp của Chánh Sở Học chính.


1.      
Arrêté du 06 février 1945 du Gouverneur général de l’Indochine portant réorganisation de l’école d’Architecture de l’école supérieure des beaux-arts.
Nghị định ngày 06-02-1945 của Toàn quyền Đông Dương về việc tổ chức lại Trường Kiến trúc trực thuộc Trường Cao đẳng Mĩ thuật.
(Nguồn: J 1246, JOIF 1945, tr. 459-468)
Nghị định gồm 26 điều:
Điều 1. Các quy định nêu tại Nghị định ngày 22-10-1942 liên quan đến Khoa Kiến trúc thuộc Trường Cao đẳng Mĩ thuật chính thức bị bãi bỏ.
Trường Kiến trúc trực thuộc Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương được nước Pháp trao quyền đào tạo để cấp văn bằng Kiến trúc sư. Văn bằng này được công nhận có giá trị tại Pháp và Đông Dương theo quy định của Chính quốc và thể thức đặc biệt dưới đây:
Phần I. Quy định chung
Điều 2. Mục đích
Chương trình đào tạo nhằm mục đích giúp sinh viên phát hiện và phát triển năng khiếu nghệ thuật, tích lũy kiến thức về kĩ thuật và thực hành để đủ điều kiện thi lấy bằng Kiến trúc sư. Theo Luật ngày 31-12-1940, cá nhân muốn hành nghề kiến trúc sư bắt buộc phải có văn bằng này.
Điều 3. Tổ chức chung
Chuyên ngành kiến trúc được giảng dạy tại Trường Kiến trúc trực thuộc Trường Cao đẳng Mĩ thuật.
Điều 4. Chương trình giảng dạy được thực hiện:
1. Tại các xưởng thực hành nơi sinh viên học và thực hành chung dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên bộ môn.
2. Thông qua các buổi nói chuyện đối với những môn chuyên ngành đăng ký trong chương trình và qua một số bài giảng.
Chương trình giảng dạy được chia thành 2 ban:
1. Ban dự bị: thời gian học kéo dài 1 năm.
2. Ban chính thức: 3 năm.
Sinh viên Ban dự bị được lựa chọn thông qua thi tuyển, theo chỉ tiêu do Toàn quyền ấn định mỗi năm. Để vào Ban chính thức, sinh viên phải trải qua kì thi điều kiện.
Trong thời gian học, sinh viên phải tham gia đầy đủ các kì thi theo quy định và được xếp hạng. Kết thúc năm thứ 3, sinh viên nào đạt thứ hạng tối thiểu hoặc điểm số quy định, trước khi thi lấy bằng Kiến trúc sư, phải thực tập tại văn phòng kiến trúc sư của tư nhân hoặc của nhà nước trong thời gian 1 năm dưới sự kiểm soát của ban thực tập.
Điều 5. Điều kiện tuyển sinh
Để đăng kí dự thi, thí sinh phải nộp cho ban thư kí các giấy tờ sau:
- Giấy khai sinh hoặc chứng thư công tri thay thế;
- Bản cam kết của cha mẹ hoặc người đỡ đầu nếu thí sinh là trẻ vị thành niên;
- Giấy xác nhận thi đỗ tú tài phần I trường trung học, chứng chỉ năng lực tương đương bằng tú tài, bằng cao đẳng hoặc bằng bổ túc trung học.
Ngay khi vào học, sinh viên được cấp sổ học bạ trong đó có ghi thông tin về hộ tịch, quá trình học, môn học và các kì thi.
Sinh viên được cấp thẻ miễn phí. Thẻ sinh viên có giá trị 4 năm và được gia hạn hàng năm. Trên thẻ có ảnh của học sinh và dấu của trường.
Trường hợp thiếu chỉ tiêu tuyển sinh, sinh viên nước ngoài có thể theo học tại trường với điều kiện có chứng chỉ học tập) tương đương với một trong những văn bằng được yêu cầu đối với sinh viên người Pháp và người Đông Dương. Họ có thể được cấp bằng Kiến trúc sư nhưng chỉ hành nghề tại Pháp và Đông Dương nếu đáp ứng quy định tại đoạn 2, điều 2, Luật ngày 31-12- 1940 quy định về việc hành nghề kiến trúc sư.
Điều 6. Chuyển hồ sơ
Về nguyên tắc, học sinh phải hoàn thành tất cả chương trình học. Tuy nhiên, trường hợp ngoại lệ, nếu được Giám đốc Nha Học chính cho phép, học sinh có thể được chuyển đến một trường tương tự tại Pháp và vẫn bảo lưu kết quả các kì thi. Học sinh bị đình thi chỉ được phép chuyển trường nếu đưa ra được lí do đặc biệt.
Điều 7. Năm học bắt đầu ngày 01-10 và kết thúc vào ngày 30-6 hàng năm. Các ngày nghỉ lễ gồm:
- Từ tối ngày 23-12 đến sáng ngày 03-01. Nếu ngày 23 hoặc ngày 03 trùng vào ngày chủ nhật, học sinh được nghỉ ngày trước hoặc sau đó.
- Ba ngày trước và ba ngày sau Tết.
- Từ ngày thứ 6 trước Lễ Phục sinh đến ngày chủ nhật sau đó.
Phần II. Nhân sự
Điều 8. Điều hành
Việc điều hành nhà trường được giao cho một kiến trúc sư DPLG (kiến trúc sư được cấp bằng nhà nước), được lựa chọn trong số giáo sư chính ngạch - phụ trách xưởng kiến trúc của trường.
Hiệu trưởng do Toàn quyền bổ nhiệm theo đề xuất của Giám đốc Nha Học chính và Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Mĩ thuật.
Quyền hạn của hiệu trưởng giống như quyền hạn của hiệu trưởng các trường học tương tự ở Pháp nhưng không được trái với các quy định về quản lí hành chính, tài chính ở Đông Dương và những quy định nêu trong Nghị định hiện hành.
Điều 9. Nhân sự giảng dạy.
Nhân sự giảng dạy gồm các giáo sư chính ngạch hoặc hợp đồng và phụ trách bộ môn hoặc giảng dạy.
Tùy theo môn học, giáo sư được lựa chọn trong số kiến trúc sư DPLG, giáo sư trường trung học, giáo sư ngành kĩ thuật hoặc giáo sư ngành hội hoạ người Đông Dương. Đội ngũ giáo sư này chịu sự quản lí của nhà trường và được giữ nguyên khung công chức trước đó.
Chức danh phụ trách bộ môn hoặc giảng dạy có thể giao cho các giáo sư của trường hoặc các chuyên gia xuất sắc về năng lực và công việc, nếu thiếu. Người phụ trách bộ môn hoặc giảng dạy được Toàn quyền chỉ định hàng năm theo đề xuất của Giám đốc Nha Học chính sau khi có sự thống nhất của Hiệu trưởng Trường Mĩ thuật và Hiệu trưởng Trường Kiến trúc.
Điều 10. Hội đồng nhà trường.
Hội đồng nhà trường gồm hiệu trưởng, giáo sư chính ngạch và giáo sư đương chức do hiệu trưởng làm chủ tịch. Hội đồng họp bàn về tất cả những vấn đề được trình lên và có thể đưa ra các thỉnh nguyện liên quan đến tổ chức học tập.
Điều 11. Nhân sự phụ tá gồm thư kí hoặc nhân viên đánh máy chữ, nhân viên chạy giấy, nhân viên tạp vụ công nhật và bảo vệ để đảm bảo cho hoạt động của nhà trường.
Phần III. Chế độ học tập
A. Ban dự bị
Điều 12. Kì thi tuyển sinh
Hàng năm, Giám đốc Nha Học chính ra quyết định ấn định thời gian và địa điểm thi, theo nguyên tắc từ ngày 01-10.
Hồ sơ đăng kí thi phải gửi cho Giám đốc Nha Học chính muộn nhất là trước ngày 20-9.
Trường hợp thí sinh đăng kí thi ít hơn số chỉ tiêu tuyển sinh thì không tổ chức thi và thí sinh mặc nhiên được tuyển.
Kì thi gồm các môn thi viết theo chương trình lớp nhất trường trung học:
Môn thi thứ 1: Bài luận bằng tiếng Pháp. Thời gian 3 giờ, hệ số 3.
Môn thi thứ 2: Toán. Thời gian 3 giờ, hệ số 3.
Môn thi thứ 3: Lịch sử đại cương. Thời gian 3 giờ, hệ số 2.
Môn thi thứ 4: Vẽ trang trí hoặc vẽ phác thảo có kích thước. Thời gian 3 giờ, hệ số 2.
Thí sinh bị điểm dưới 8/20 môn toán sẽ bị loại.
Thí sinh có bằng tú tài trường trung học (Ban Toán) có thể được miễn thi.
Điều 13. Hội đồng giám khảo do Giám đốc Nha Học chính chỉ định theo đề xuất của Hiệu trưởng Trường Mĩ thuật, bao gồm:
- Chủ tịch: Hiệu trưởng Trường Mĩ thuật hoặc người đại diện;
- Phó chủ tịch: Hiệu trưởng Trường Kiến trúc;
- Thành viên: 1 giáo sư kiến trúc của trường, 1 giáo sư toán học, 1 giáo sư tiếng Pháp và 1 giáo sư lịch sử.
Điều 14. Thời gian học
Sinh viên Ban dự bị học trong thời gian 1 năm, sau đó có thể tham dự kì thi điều kiện để vào Ban chính thức.
Sinh viên chỉ dự thi vào Ban chính thức nếu theo học đầy đủ các môn học và đạt tối thiểu từ 8/20 đối với mỗi môn học. Thí sinh đủ điều kiện chỉ được dự thi 3 lần và không bị giới hạn về tuổi.
Điều 15. Miễn học dự bị
 Sinh viên các Trường Bách khoa, Trường Bách nghệ, Trường Cầu Đường, Trường Mỏ, Trường Nông nghiệp, Trường Hàng hải, Trường Thuỷ Lâm được miễn thực tập tại Ban dự bị, có thể trực tiếp tham dự kì thi điều kiện vào Ban chính thức của trường và được cộng 80 điểm.
B. Ban chính thức
Điều 16. Hàng năm, kì thi vào Ban chính thức diễn ra vào tháng 6 gồm các môn thi viết và thi vấn đáp.
Các môn thi viết gồm:
1. Môn kiến trúc: Gồm 2 bài thi
- Bài thi thứ 1: Thực hành vẽ phác thảo bản thiết kế kiến trúc lô-gi-a trên 1/2 khổ giấy lớn. Thời gian thi: 16 giờ (2 ngày). Hệ số 12.
- Bài thi thứ 2: Thực hành vẽ các chi tiết kiến trúc trên 1/2 khổ giấy lớn. Thời gian thi 12 giờ (1 ngày). Hệ số 15.
Thí sinh chỉ được phép làm bài thi thứ 2 nếu đạt yêu cầu ở bài thi thứ 1.
2. Môn vẽ trang trí và hình họa
- Bài thi thứ 1: Thực hành vẽ trang trí. Thời gian 8 giờ (1 ngày). Hệ số 10.
- Bài thi thứ 2. Thực hành vẽ hình hoạ. Thời gian 8 giờ (1 ngày). Hệ số 10.
3. Nặn tượng: Thực hành nặn tượng hoặc đắp phù điêu. Thời gian 8 giờ (1 ngày). Hệ số 10.
4. Lịch sử nghệ thuật đại cương: Một môn thi viết kèm theo bản vẽ. Thời gian 6 giờ. Hệ số 14.
5. Khoa học: Bản vẽ hình học hoạ hình. Thời gian 8 giờ. Hệ số 10.                                                                                                                                                                                                      
Các môn thi vấn đáp gồm:
1. Lịch sử nghệ thuật đại cương: Hệ số 1
2. Khoa học:
- Môn toán đại cương: hệ số 10
- Môn hình học hoạ pháp: hệ số 10
Các môn thi được chấm theo thang điểm 20. Thí sinh có điểm dưới 8 bị loại.
Sinh viên có bằng tú tài toàn phần được cộng 80 điểm.
Thí sinh đạt điểm tối thiểu 1050 điểm được tuyển vào Ban chính thức.
Điều 17. Thành viên hội đồng giám khảo do Giám đốc Nha Học chính chỉ định theo đề xuất của Hiệu trưởng Trường Mĩ thuật, gồm:
- Chủ tịch: Hiệu trưởng Trường Kiến trúc làm chủ tịch;
- Các thành viên: 3 kiến trúc sư người nước ngoài (môn kiến trúc); 1 hoạ sĩ, 1 nhà điêu khắc và 1 kiến trúc sư (môn hội hoạ và nặn tượng); 1 giáo sư lịch sử và 1 kiến trúc sư (môn lịch sử nghệ thuật đại cương); 1 giáo sư toán học và 1 kiến trúc sư (môn toán).
Điều 18. Chương trình giảng dạy kéo dài 3 năm.
Sinh viên phải theo học và tham gia đầy đủ các môn thi viết và thi vấn đáp bắt buộc.
Không có kì thi cuối năm song sinh viên phải đạt mức điểm quy định và thứ hạng tối thiểu mới đủ điều kiện để lên lớp.
Bảng xếp hạng tổng được lập hàng năm theo số hạng và điểm số đạt được.
Điều 19. Thành phần hội đồng giám khảo trong năm gồm:
- Chủ tịch: Hiệu trưởng;
- Các thành viên: Phụ trách xưởng thực hành của Ban dự bị hoặc Ban chính thức; giáo sư dạy lí thuyết; giáo sư thực hành; kiến trúc sư nước ngoài; giáo sư hội hoạ; giáo sư nặn tượng; phụ trách xưởng kiến trúc; kiến trúc sư; hoạ sĩ; nhà điêu khắc và giáo sư phụ trách các môn học.
Phần IV. Thực tập và bằng cấp
Điều 20. Trong 3 năm học, sinh viên đạt thứ hạng tối thiểu và điểm số yêu cầu hàng năm phải hoàn thành khoá thực tập 1 năm mới được thi tốt nghiệp.
Khoá thực tập có thể diễn ra tại Đông Dương hoặc tại Pháp. Trường hợp thực tập tại Pháp, sinh viên phải làm đơn và được Toàn quyền chấp thuận.
Sinh viên thực tập tại văn phòng kiến trúc sư của tư nhân hoặc của nhà nước trong thời gian 1 năm dưới sự kiểm soát của ban thực tập.
Việc xem xét đánh giá kết quả thực tập của sinh viên dựa trên báo cáo, bản vẽ thi công, bài viết, công lệnh và việc kiểm tra bản kê hàng ngày (bản kê chi tiêu của một công trình). Những giấy tờ này được kiến trúc sư hoặc người đứng đầu cơ quan hành chính hướng dẫn thực tập sinh chứng thực và chuyển đến hội đồng giám khảo kì thi tốt nghiệp trước khi đánh giá. Trường hợp kiến trúc sư hướng dẫn xác nhận khống cho thực tập sinh, họ sẽ bị truy xét trước đoàn kiến trúc sư tại Pháp theo đơn khiếu nại của quốc vụ khanh (bộ trưởng) hoặc trước ban thực tập tại Đông Dương theo đơn khiếu nại của Giám đốc Nha Học chính. Sau đó vụ việc do Toàn quyền quyết định.
Thực tập sinh chỉ dự thi tốt nghiệp khi toàn bộ tài liệu của thực tập sinh đó được chứng thực.
Điều 21. Kì thi tốt nghiệp
Kì thi tốt nghiệp được tổ chức tại Trường Kiến trúc và không giới hạn độ tuổi của thí sinh. Sinh viên đạt mức tối thiểu về điểm số, thứ hạng trong quá trình học tập và hoàn thành khoá thực tập được phép dự thi.
Thí sinh thuyết trình đồ án thi công theo chương trình chung cho tất cả các trường và theo thể thức quy định.
Đồ án phải nộp trước ngày thi vấn đáp (thuyết trình đồ án) 15 ngày và được chấm theo thang điểm 20, gồm:
 - Phần viết đồ án, hệ số 5;
- Nghiên cứu và trình bày, hệ số 3;
- Các phần khác, hệ số 3.
Mỗi sinh viên được gọi lên thuyết trình đồ án trước ban giám khảo và trả lời câu hỏi liên quan đến đồ án của mình. Phần thi vấn đáp được chấm theo thang điểm 20, hệ số 2.
Thí sinh phải đạt tổng điểm tối thiểu là 120 ở môn thi thứ 1 này mới được vào vòng thi tiếp theo với các môn thi như sau:
- Thi viết về lịch sử nghệ thuật, hệ số 1;
- Thi vấn đáp về kĩ thuật thực hành liên quan đến khóa thực tập, hệ số 2;
- Thi vấn đáp về kĩ thuật xây dựng, hệ số 2;
- Thi vấn đáp về luật xây dựng, hệ số 1;
- Thi vấn đáp về kế toán xây dựng và tổ chức nghề nghiệp, hệ số 1.
Tổng số điểm của 5 môn thi sau khi nhân hệ số phải đạt từ 70 điểm trở lên.
Thí sinh đậu kì thi này được cấp bằng và mang chức danh kiến trúc sư (cử nhân).
Điều 22. Thành phần hội đồng thi tốt nghiệp gồm:
- Phần thi thứ nhất (đồ án thi công): 3 kiến trúc sư.  Phụ tá cho 3 kiến trúc sư là: 1 giáo sư xây dựng, 1 giáo sư tĩnh học, 1 kĩ sư chuyên gia về thiết bị xây dựng.
- Phần thi thứ 2: 1 kiến trúc sư được lựa chọn trong số 3 kiến trúc sư nêu trên, 1 giáo sư lịch sử, 1 giáo sư luật hay 1 quan toà hoặc cựu quan toà, 1 kiến trúc sư.
Phần V. Các quy định khác
Điều 23. Học bổng cao đẳng được cấp theo quy định tại Nghị định số 6328 ngày 12-12-1933.
Điều 24. Chế độ kỉ luật được điều chỉnh theo Nghị định ngày 18-9-1924, sửa đổi và bổ sung ngày 18-2-1926, ngày 02-7-1926 và ngày 14-5-1930.
Điều 25 gồm một số quy định tạm thời.
Điều 26. Phó Toàn quyền, Giám đốc Học chính Đông Dương và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Kèm theo Nghị định này là Chương trình học tập. Chương trình quy định chi tiết cho từng năm học và từng môn học cụ thể.
2.      
Arrêté du 9 mai 1945 du Gouverneur général de l’Indochine portant création d’une école des Fonctionnaires indochinois.
Nghị định ngày 09-5-1945 của Toàn quyền Đông Dương về việc thành lập một trường đào tạo viên chức Đông Dương.
(Nguồn: J 1248, JOIF 1945, tr. 30-31)
Nghị định gồm 10 điều với các nội dung chính như sau:
Điều 1. Trường Đào tạo Viên chức Đông Dương chịu sự kiểm soát của Giám đốc Nha Học chính Đông Dương có nhiệm vụ đào tạo viên chức người Đông Dương làm việc tại các cơ quan hành chính và tư pháp.
Điều 2. Trường đào tạo 2 trình độ sơ cấp và cao cấp.
Điều 3. Thời gian học là 3 năm. Với lớp đặc biệt, thời gian học được quy định riêng.
Điều 4. Điều kiện dự tuyển vào trường quy định như sau:
a. Lớp sơ cấp:
1. Cựu học sinh bậc trung đẳng, cao đẳng (gồm cả viên chức đương nhiệm) đã học hết chương trình cao đẳng tiểu học (4 năm) hoặc học trung học năm thứ 3.
2. Học sinh học cao đẳng tiểu học năm thứ 4 hoặc học trung học năm thứ 3 bị gián đoạn trong niên khoá 1944-1945.
3. Những người được Giám đốc Nha Học chính công nhận trình độ căn cứ vào bằng cấp.
b. Lớp cao cấp
1. Sinh viên và cựu sinh viên trường đại học (gồm viên chức đang tại nhiệm).
2. Cựu học sinh trung học (gồm viên chức đang tại nhiệm) đã học môn triết học hoặc môn toán sơ cấp.
3. Học sinh trung học năm thứ 1 bị gián đoạn niên khoá 1944-1945.
4. Thí sinh được Giám đốc Nha Học chính công nhận trình độ tương đương theo bằng cấp.
Điều 5. Thí sinh dự thi phải làm đơn gửi Giám đốc Nha Học chính kèm theo bản trích lục giấy khai sinh, bản sao văn bằng hoặc giấy chứng nhận học đường. Độ tuổi quy định đối với thí sinh là từ 18 đến 30 tính đến ngày 01-01 của năm tổ chức thi.
Điều 6. Thí sinh được tuyển chọn vào trường sau khi đậu kì kiểm tra vấn đáp và kiểm tra sức khỏe. 
Điều 7. Sinh viên của trường được ở nội trú.
Điều 8. Các môn học quy định như sau:
a. Lớp sơ cấp gồm các môn: đạo đức; khái niệm cơ bản về khoa học tư pháp; khái niệm cơ bản về cai trị; giáo dục thể chất và kỉ luật; môn chuyên ngành; bài tập thực hành về hành chính.
b. Lớp cao cấp gồm các môn: đạo đức; công pháp Đông Dương; luật hành chính Đông Dương; nguyên tắc về các sở y tế; công chính; lao động; luật hình sự và tố tụng hình sự áp dụng tại Đông Dương; luật dân sự và tố tụng dân sự áp dụng tại Đông Dương; giáo dục thể chất và kỉ luật, môn chuyên ngành; bài tập thực hành.
3.      
Suppression de la Direction de l’Instruction publique en Indochine 1945.
Xoá bỏ Nha Học chính Đông Dương 1945.
(Nguồn: DABI - 1534)
Hồ sơ gồm 6 tờ, trong đó có:
Nghị định số 1047 ngày 15-8-1945 của Toàn quyền Đông Dương về việc xoá bỏ Nha Học chính Đông Dương kể từ ngày 15-8-1945. Theo đó, toàn bộ tài liệu lưu trữ và tư liệu của Nha Học chính sẽ được chuyển sang lưu giữ tại Nha Lưu trữ và Thư viện Đông Dương. Các loại tài sản khác được chuyển về Nha Tài chính.










 

 

 

 





[1] Vào các năm 1950, 1956, 1979.
[2] Vào các năm 1986, 2000, 2014.
[3] Nguồn http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/254711/cong-bo-du-thao-chuong-trinh-giao-duc-pho-thong-tong-the.html
[4] PGS.TS Phạm Văn Quyết (Đại học KHXH & VN thuộc Đại học Quốc gia HN), Những trăn trở cho đổi mới giáo dục đại học Việt Nam (Nguồn: Dantri.com.vn, ngày 7/8/2007).
[5] GS.TS Nguyễn Thị Mĩ Lộc, Giáo dục đại học Việt Nam - Những vấn đề chất lượng và quản lí (nguồn: https://vnu.edu.vn/btdhqghn/?C1987/N14616/Giao-duc-dai-hoc-Viet-Nam-Nhung-van-de-chat-luong-va-quan-ly.htm).

[6] Paul Beau chính thức nhậm chức Toàn quyền Đông Dương ngày 15-10-1902.
[7] Albert Sarraut được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương hai lần. Lần thứ nhất được bổ nhiệm theo Sắc lệnh ngày 01-6-1911, chính thức nhậm chức ngày 15-11-1911 và lần thứ hai được bổ nhiệm theo Sắc lệnh ngày 7-11-1916, chính thức nhậm chức ngày 22-1-1917.
[8] Người Pháp gọi Nam Kì là “Cochinchine française” (tức Nam Kì thuộc Pháp).
[9] Courrier de Saigon, No 23 du 5 décembre 1874.
[10] BOCF, 1879, tr. 85-100.
[11] H. Marc et Cony: “Indochine française” - Paris 1946, tr. 12 (dẫn theo Phan Trọng Báu: Giáo dục Việt Nam thời cận đại, Nxb KHXH, H, 1994, tr. 55).
[12] Theo báo cáo số 706 ngày 26-6-1890 của Thanh tra Doumoutier (phụ trách Sở Học chính Trung - Bắc Kì). Tài liệu phông Tòa Đốc lí Hà Nội (Fonds de la Mairie de de Hanoï - MHN), hs: 5126.
[13] Direction de l’Instruction Publique - C. Mus, Directeur de l’Ecole supérieure de Pédagogie de l’Université Indochinoise: La Première Université Indochinoise, Hanoï, 1927, tr. 2.
[14] JOIF, 1906, tr. 807-810.
[15] RHD, hs: 3756.
[16] JOIF, 1906, tr. 1634-1640.
[17]La Première Université Indochinoise, sđd, Hanoï, 1927, tr. 2.
[18] JOIF, 1906, tr. 807-810.
[19] RST, hs: 20345.
[20] JOIF, 1918, tr. 607-684.
[21] JOIF, 1927, tr. 1927-1928.
[22] JOIF, 1935, tr. 2862-2864.
[23] JOIF, 1938, tr. 416-430.
[24] Direction de l’Instruction publique: Règlement général de l’Enseignement supérieur, 2ème édition, Hanoï-Haiphong, Imprimerie d’Extrême-Orient, 1921.
[25] Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/bo-truong-phung-xuan-nha-muc-tieu-cua-giao-duc-khong-phai-la-bang-cap-3384392.html 



 Giáo dục Việt Nam thời kỳ thuộc địa, qua tài liệu và tư liệu lưu trữ( 1858-1945)  Nxb thông tin và truyền thông. H.2016

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2017

CÁC CHỦ ĐỀ HUYỀN THOẠI


CÁC CHỦ ĐỀ HUYỀN THOẠI

Giải thích bức tranh Moise của Mechel Angel



SIGMUND FREUD
(1856 – 1939)

Tên đầy đủ là Sigismund Schlomo Freud, là một nhà thần kinh học, tâm thần học người Áo, và cũng được coi là người đồng sáng lập nên trường phái Phân tâm học. Người ta biết đến ông qua các lý thuyết về vô thức, liên quan đến cơ chế ức chế; sự xác định lại về khao khát tính dục như là phương tiện dẫn đến sự phức tạp của khách thể.. Ông cho rằng, nguồn gốc của bệnh nhiễu tâm là do sự dồn nén của ham muốn tình dục trong vô thức. Sự di chuyển của ham muốn này vào ý thức được ngụy trang qua những giấc mơ, hành vi vô thức và sáng tạo nghệ thuật.
Ông được coi là “cha đẻ của Phân tâm học” và tác phẩm của ông ảnh hưởng sâu sắc - phổ biến rộng rãi các khái niệm như là cơ chế phòng ngự, vô thức, biểu tượng giấc mơ. Lý thuyết Phân tâm học của ông có lâu dài vào các lĩnh vực khác nhau như văn học (như Kafka), điện ảnh, lý thuyết nữ quyền, mác xít, phê bình văn học, triết học và tâm lý học. Tuy nhiên, các lý thuyết này vẫn còn nhiều mâu thuẫn gây tranh cãi.
Các tác phẩm chính của ông gồm: Giải đoán giấc mơ - The Interpretation of Dreams, (1900), Ba luận văn về lý thuyết tính dục - Drei Abhandlungen zur Sexualtheorie (1905), Vật tổ và cấm kị - Totem und Tabu (1913), Ở bên kia của nguyên lý khoái lạc - Jenseits des Lustprinzips (1920), Tương lai của một ảo tưởng - Die Zukunft einer Illusion (1927), Moise và nhất thần luận - Der Mann Moses und die monotheistische Religion (1939), Đề cương Phân tâm học - Abriß der Psychoanalyse (1940)…
Ông có một số tác phẩm ứng dụng Phân tâm học vào phân tích tác phẩm nghệ thuật như Sự mê sảng và những giấc mơ trong Gradiva của W.Sensen (1907), Một kỷ niệm của thời thơ ấu của Léonard de Vinci (1910), Sáng tạo văn học và giấc mơ tỉnh thức. Theo ông, sáng tạo nghệ thuật là sự thăng hóa của vô thức bị dồn nén; tác phẩm văn học trước hết là một giấc mơ, phản ánh những ham muốn vô thức, những mặc cảm; mỗi sự kiện trong tác phẩm văn học đều ẩn chứa sự kiện nguyên thủy, khơi gợi ký ức tuổi thơ của người đọc. Ở Freud, ta còn thấy sự áp dụng lần đầu cách thức nghiên cứu liên văn bản.

Phạm Phương Chi giới thiệu


CÁC CHỦ ĐỀ HUYỀN THOẠI

Giải thích bức tranh Moise của Mechel Angel

“Moise là một con người, theo bằng chứng trong truyền thống, dễ cáu bẳn và đam mê điên cuồng. Trong một số cơn giận thần thánh, ông đã giết người Ai Cập vì y ngược đãi một người Do Thái, điều này buộc ông phải rời bỏ tổ quốc và trốn vào sa mạc. Trong một cơn bùng nổ đam mê tương tự, ông đã vò nát tác phẩm Tables do chính Chúa viết. Khi ở quan niệm truyền thống biểu lộ những nét tính cách như thế, chắc chắn nó vô tư và giữ dấu ấn về một con người vĩ đại đã sống thực. Song Michel Angel đã đặt trên mộ của giáo hoàng một Moise khác, cao cả hơn một Moise trong lịch sử hoặc của truyền thống. Ông đã sửa chủ đề của Tables về luật (vì bị vò nát) không cho phép Moise nổi giận xé sách đó, song sự đe dọa nó bị xé nát làm dịu cơn giận hoặc chí ít kìm nói lại lúc hành động. Theo ông đã đưa vào hình tượng Moise một cái gì mới, một cái gì siêu phàm, và hình khối mạnh mẽ cũng như cơ bắp cuồn cuộn, đầy sức mạnh của nhân vật chỉ là một phương tiện biểu đạt mọi tư liệu dùng để làm cho kỳ tích tâm trí trở thành tuyệt vời nhất mà con người có thể làm được: Chiến thắng đam mê của mình nhân danh một sứ mệnh được giao”.

GIẢI THÍCH MỘT CHỦ ĐỀ HUYỀN THOẠI TRONG VĂN HỌC

Chọn một người giữa ba người phụ nữ: Vua Lia và các con gái của mình

“Ông vua Lia già nua, lúc còn sống quyết định chia vương quốc của mình cho ba con gái, chia theo tỉ lệ tình yêu mà các cô biểu lộ với cha. Hai cô đầu (Gondrilon và Gegane) kiệt sức vì cam kết tình yêu và khoa trương. Cô thứ ba, Cordélia khước từ. Người cha đáng nhẽ phải công nhận, thưởng cho tình yêu im lặng và che giấu của cô thứ ba, song ông không biết, gạt Cordélia ra và chia vương quốc cho hai cô kia. Việc làm đó của nhà vua đã gây đau khổ cho mình và cho mọi người. Có phải đây là một biểu tượng của việc lựa chọn giữa ba phụ nữ mà người trẻ nhất là tốt nhất và hoàn hảo nhất”.

Người phụ nữ hoàn hảo, người phụ nữ im lặng là biểu tượng cái chết.

“Có thể người ta ngạc nhiên vì người phụ nữ thứ ba này rất hoàn hảo, có trong nhiều trường hợp, ngoài sắc đẹp, còn có một số đặc điểm. Đó là một phẩm chất có vẻ thuộc về một tổng thể nào đó, tuy vậy, chúng tôi không thể chờ đợi bắt gặp ở mức độ ngang như thế trong mỗi ví dụ. Cordélia tỏ vẻ bên ngoài không khác biệt, ít bộc lộ, cô im tiếng “yêu và nín lặng”. Gondrilon giấu mặt để người ta không tìm được cô. Có lẽ chúng ta có thể đồng hóa việc tự che giấu với việc giữ câm lặng”.
“Vua Lia là một ông già. Chúng tôi đã nói: do tuổi tác của ông, nên ba chị em được trình diện như con gái của mình. Quan hệ cha con, từ đó có thể bày ra biết bao hứng khởi kịch tính có hiệu quả, nhà thơ không dùng đến trong tiến trình của vở kịch. Song vua Lia không chỉ là một ông vua già mà là một người đang chết. Việc đề xuất phân chia gia tài một cách kỳ lạ như vậy cũng không còn kỳ quặc nữa. Song con người hiến dâng cho cái chết đó không muốn từ chối tình yêu của phụ nữ, ông muốn để được yêu tới mức nào. Sau đó ta hãy xem cảnh cuối cùng gây xúc động, một trong những điểm bi kịch của kịch hiện đại: vua Lia mang thi hài của Cordélia lên sân khấu. Cordélia đó là thần chết. Lật ngược lại tình thế, ta có thể hiểu và không lạ gì. Chính nữ chúa của thần chết đã mang đi khỏi chiến trường người hùng đã tử trận, giống như Valkyric trong huyền thoại Đức. Đạo lý muôn thuở bọc trong quần áo của huyền thoại cổ khuyên ông già từ bỏ tình yêu, chọn cái chết, làm quen với sự tất yếu phải chết.
Nhà thơ cho phép ta gần đạt chủ đề cổ bằng cách cho ông già đang chết chọn trong ba chị em. Việc cải biên dè dặt mà nhà thơ tìm cách thuyết phục trong huyền thoại làm thay đổi bằng cách bóp méo lòng ham muốn, vấn đề lộ ra ý nghĩa đầu tiên ở chỗ vẫn có thể giải thích nông cạn và phúng dụ ba gương mặt phụ nữ trong chủ đề. Cái tôi nói đó là ba quan hệ không tránh khỏi của nam với nữ được biểu tượng ở đây: đây là sự phát sinh, sự động hình và sự phá hoại hoặc là hình ảnh của người mẹ xuất hiện dưới ba dạng trong cuộc đời: bản thân người mẹ, người tình mà nam giới chọn theo hình ảnh của mẹ và cuối cùng, Đất - Mẹ lấy lại anh ta một lần nữa. Song ông già tìm một cách vô hiệu nắm bắt lại tình yêu của người phụ nữ như mình dễ nhận được lúc đầu ở mẹ mình; chỉ có cô thứ ba trong các cô gái của Định mệnh, bà chúa im lặng của thần chết dang tay ra đón ông.”

Sáng tạo nghệ thuật. Cái thay thế cho thỏa mãn bản năng

“Người ta công nhận vương quốc của tưởng tượng là một “dự trữ” có tổ chức khi trải qua cảm xúc một cách đau đớn từ nguyên lý khoái lạc sang nguyên lý thực tế để cho phép thay thế cho khoái cảm bản năng phải từ bỏ trong đời sống thực. Nghệ sĩ giống như người bị bệnh nhiễu tâm, rút lui khỏi thực tế không thỏa mãn để đi vào thế giới tưởng tượng, song trái lại vẫn phải đặt chân vào thực tế. Những sáng tạo, những tác phẩm nghệ thuật của ông là những thoả mãn tưởng tượng cái ham muốn vô thức, giống như mộng; cũng như mộng, chúng có chung tính cách là một thoả hiệp, bởi chúng cũng phải tránh xung đột không che đậy với sức mạnh dồn nén. Song trái ngược với những sản phẩm của thói tự si mê, phi xã hội của mộng, chúng có thể tin cậy vào thiện cảm của những người khác, bởi chúng có thể làm thức dậy và thoả mãn những ao ước ham muốn vô thức giống như thể ở họ. Hơn nữa chúng là “phần thưởng quyến rũ”, của ham muốn gắn vào tri thức cái đẹp của hình thức. Cái mà Phân tâm học có thể làm được – theo những quan hệ qua lại của những ấn tượng sống, những thăng trầm ngẫu nhiên và những tác phẩm của nhà nghệ sĩ – đó là lập lại cấu tạo và những khao khát bản năng nổi lên ở trong người, nghĩa là những cái mà ông trình bày như là con người muôn thuở”.

Chủ đề ŒDIPE

Chủ đề Œdipe đúng là một trong những chủ đề về con người muôn thuở. Dưới ánh sáng của Phân tâm học, bi kịch được soi sáng theo một nghĩa mới, do hiểu những động cơ sâu xa nhất của tác giả. Rất lý thú, nhân đây nhấn mạnh rằng nguồn gốc của Phân tâm học cũng được soi sáng nhờ bi kịch…Quả thật, chẳng bao lâu sau khi cha mình chết, Freud tìm ra trong bản thân mình, lúc mới tự phân tích, những thành phần cấu thành thảm kịch Œdipe.
“Việc chọn, thậm chí việc sáng tạo chủ đề thê thảm, bao giờ cũng có vẻ bí hiểm, cũng như tác động đảo lộn của nó trong những khán giả của vở kịch rút ra từ đó, cũng như bản chất của vở kịch về số mệnh nói chung. Tất cả những cái này được cắt nghĩa khi hiểu rằng một quy luật của đời sống tâm trí được nắm bắt ở đây với đầy đủ tầm quan trọng tình cảm của nó. Định mệnh và những lời thánh truyền chỉ là vật chất hoá của tất yếu bên trong. Việc người hùng phạm tội mà không biết và trái với ý định của mình, biểu đạt đúng bản chất vô thức của những ham muốn phạm tội. Từ việc hiểu bi kịch đó của số mệnh, chỉ còn một bước nữa thôi để đi đến trí tuệ trong bi kịch của tính cách như Hamlet, được ngưỡng mộ từ ba trăm năm nay, mà không chỉ ra được ý nghĩa hoặc hiểu những động cơ của nhà thơ. Rất hay là con người nhiễu tâm do nhà thơ đó tạo ra, thất bại trên mặc cảm Œdipe, giống như vô số bạn đồng đội của mình trong thế giới thực, bởi Hamlet đứng trước bổn phận phải trả thù một người khác để hai hành động tạo thành bản chất của khát vọng Œdipe, do đó cảm giác tội lỗi riêng và mù mờ của Shakespeare làm liệt tay ông ít lâu nay khi cha ông chết”.

Huyễn tưởng và sáng tạo tranh vẽ

Huyễn tưởng chim kền kền của Léonard De Vinci ký ức tuổi thơ của Léonard De Vinci, qua phân tích một ký ức bình phong (huyễn tưởng) đặc biệt phong phú về tính tượng trưng, mang những ấn tượng tuổi thơ, những yếu tố xung đột trong lịch sử của mình, những đồng nhất hoá và không có đồng nhất hoá. Việc giải thích của Freud là sự phân tích Léonard De Vinci xem có những gì chủ yếu; nỗi nhớ nụ cười xa xôi của mẹ. Tuy vậy, không nên coi tác phẩm như là bản dịch hoặc thể hiện huyễn tưởng. Cuộc sống huyễn tưởng cho phép cái bị dồn nén lên tiếng bằng tác phẩm, cho nó một số phận khác bằng thăng hoa. “Dường như số mệnh quyết định tôi phải quan tâm rất đặc biệt đến con kền kền, bởi một trong những ký ức đầu tiên của tôi là, khi còn nằm trong nôi, một con chim kền kền đến với tôi, dùng đuôi mở miệng tôi và nhiều lần dùng đuôi đánh vào môi tôi”.
“Giờ đây chúng tôi có thể hình dung căn nguyên của huyễn tưởng chim kền kền của Léonard De Vinci: một hôm ông đọc trong Đức cha của Nhà thơ hoặc trong một quyển lịch sử tự nhiên thấy những con chim kền kền đều là chim mái, có thể sinh sản không cần các con trống, khi đó trong ông làm sống lại một ký ức có dạng huyễn tưởng này, song có nghĩa chính ông là con trai của chim kền kền, đứa trẻ có mẹ nhưng không có cha. Kết hợp với ký ức đó, theo cách duy nhất cho phép ông có những ấn tượng sớm như thế tái hiện, một âm vang lạc thú cảm thấy khi chiếm hữu vú mẹ. Các tác giả xưa ám chỉ Mẹ đồng trinh với con, một chủ đề - thân thiết với mọi tác giả, ám chỉ đó góp phần làm cho những huyễn tưởng của Léonard De Vinci có vẻ quý giá và có ý nghĩa.
Nó cho phép ông tự đồng nhất với Con Jésus, người an ủi và cứu thế của mọi người, chứ không phải chỉ một phụ nữ.
Khi ta phân tích một huyễn tưởng trẻ thơ thành những yếu tố, ta tìm cách tách nội dung của ký ức với những yếu tố chậm hơn làm nó thay đổi và biến dạng.
Ở Léonard, giờ đây chúng tôi tin là biết được nội dung của huyễn tưởng của ông, thay bằng mẹ chim kền kền cho ta hiểu đứa trẻ thiếu cha, nó cảm thấy có một mình cùng với mẹ. Việc Léonard ra đời ngoài giá thú phù hợp với huyễn tưởng chim kền kền của ông; chỉ có hoàn cảnh này cho phép ông so sánh mình với con trai của chim kền kền. Hơn nữa, sự kiện chắc chắn thứ hai trong tuổi thơ của ông mà chúng ta biết là lúc năm tuổi, ông được thu nhận ở nhà cha.
Chính ở đây việc giải thích huyễn tưởng chim kền kền có giá trị và có thể cho ta hay Léonard đã sống những năm đầu tiên quyết định của cuộc đời, không phải ở với cha và người mẹ kế, mà ở với mẹ đẻ, người phụ nữ khốn khổ bị bỏ rơi, người mẹ thực sự ở đó ông có thời gian cảm nhận không có cha”.

Giải thích bức tranh Thánh Anne của Léonard De Vinci.

“Tìm hiểu sâu một chút bức tranh này, ta sẽ hiểu ngay điều này: chỉ có Léonard mới có thể làm được một tác phẩm như thế, cũng như chỉ một mình ông mới có thể tưởng tượng ra huyễn tưởng chim kền kền. Bức tranh này tổng hợp lịch sử tuổi thơ của ông: những chi tiết tác phẩm được cắt nghĩa bằng những ấn tượng trong cuộc đời của Léonard mới có thể làm được một tác phẩm như thế, cũng như chỉ một mình ông mới có thể tưởng tượng ra huyễn tưởng chim kền kền. Bức tranh này tổng hợp lịch sử tuổi thơ của ông: những chi tiết tác phẩm được cắt nghĩa bằng những ấn tượng trong cuộc đời của Léonard. Ở trong nhà của cha, ông chỉ thấy bà mẹ kế nuôi, Donna Albiera, mà còn cả bà nội. Monna Lucea, bà nội – ta có thể giả định như thế - rất âu yếm ông như các bà bao giờ cũng thế. Hoàn cảnh này làm ông quen với ý nghĩ tuổi thơ đặt dưới sự bảo vệ của một người mẹ và một người bà. Một đặc điểm nổi bật nhất của bức tranh này còn có ý nghĩa lớn hơn nữa. Thánh Anne, mẹ của Maria, tuy vậy được biểu tượng những nét của một phụ nữ trẻ và sắc đẹp chưa phai chút nào. Thực ra, Léonard cho Con hai người mẹ, một người dang tay đón mình, người kia ở hàng sau; ông đã tô vẽ cả hai người cười sung sướng hạnh phúc làm mẹ.”
“Tuổi thơ của Léonard cũng đặc biệt như bức tranh này. Ông có hai mẹ, trước hết là mẹ đẻ, Cathérina, đã bị lấy mất con giữa ba và năm tuổi, về sau, người mẹ kế trẻ và âu yếm, Dona Albiera. Khi nhích gần lại hoàn cảnh tuổi thơ này của ông với một hoàn cảnh khác ở chỗ cha đồng thời có một người mẹ và một người bà, và khi trộn lẫn thành một thực thể. Léonard quan niệm một bên “Thánh Anne”. Hình tượng mẹ xa xôi nhất của đứa trẻ, người bà theo vẻ bề ngoài và tình huống trong tranh, tương ứng với quan hệ với con, với người mẹ thực sự đầu tiên: Cathérina. Và nhà nghệ sĩ che lấp với nụ cười sung sướng của Thánh Anne, nỗi đau và thèm khát mà người đàn bà khốn khổ cảm thấy khi phải nhường cho người cạnh tranh quý tộc của mình đứa con bên cạnh người cha”.

Nguồn gốc của bức tranh: so sánh giữa bản mẫu ở London và bức tranh ở Louvre

“Căn cứ vào bản mẫu, ta thấy Léonard cảm thấy như thế nào nhu cầu phải chấm dứt sự hợp nhất gần như mộng của hai người phụ nữ, nó đáp ứng những ký ức tuổi thơ của ông, và phải tách riêng hai vẻ mặt ra. Ông làm điều này bằng cách tách đầu và phần trên thân hình của Maria khỏi hình mẹ và cho Maria ngả về phía trước. Đó là motif cho sự chuyển di này. Còn Jésus phải rời đầu gối mẹ để xuống đất và như thế không còn chỗ cho bé Jean, được thay thế bằng con cừu non”

Nụ cười của La Joconde và số phận của Léonard

“Khi thành công vì đã đem lại cho nét mặt của La Joconde hai ý nghĩa của nụ cười này: hứa hẹn âu yếm tột cùng và đe doạn báo trước tai hoạ. Léonard còn trung thành với nội dung của những ký ức đầu tiên của mình. Bởi sự âu yếm quá mức của mẹ đối với ông là giết chết ông, bịt kín số phận và những thiếu thốn của con người và cuộc sống của ông”.
“Tình yêu của mẹ đối với hài nhi mà bà nuôi dưỡng và chăm sóc là một cái gì sâu sắc khác với yêu con về sau khi con đã bắt đầu lớn. Đó là mối quan hệ tình yêu bao gồm thoả mãn đầy đủ không chỉ những ham muốn tâm trí, mà còn làm giảm nhẹ mọi nhu cầu thực tế. Và nếu nó biểu tượng một trong những dạng hạnh phúc mà con người có thể vươn tới, cái đó phần lớn là nhờ khả năng của quan hệ mẹ - con có thể thoả mãn đồng thời, không chê trách, những ham muốn cũ, bị dồn nén, gọi cho đúng là tà “dâm”
“Khi Léonard lên đến đỉnh cao của cuộc sống, lại gặp nụ cười sảng khoái xuất thần đó, giống như nụ cười trên môi của mẹ mình khi mẹ vuốt ve âu yếm, chính nụ cười đó từ lâu bị ức chế, cấm ông không bao giờ được đòi hỏi những âu yếm như thế trên môi phụ nữ. Song ông trở thành hoạ sĩ và cố gắng tạo lại nụ cười này bằng bút vẽ và đưa vào mọi bức tranh của mình.”

Huyễn tưởng và sáng tạo thơ

“Có nên tìm ngay ở trẻ em những dấu tích đầu tiên của hoạt động thơ? Sự quan tâm ưa thích và mạnh nhất của trẻ em là chơi. Có thể ta có quyền nói mọi trẻ em chơi là ứng xử của một nhà thơ, ở chỗ nó tạo ra cho mình một thế giới, hoặc nói đúng hơn, nó hoán vị các vật của thế giới nơi nó sống sang một trật tự mới hoàn toàn thích hợp với mình. Sẽ bất công khi nói nó không cho thế giới này là thực, trái lại, nó rất coi trọng việc chơi của mình, để rất nhiều tình cảm vào đó. Trái với việc chơi không phải là cái quan trọng, mà là thực tế. Bất chấp mọi đầu tư tình cảm, đứa trẻ phân biệt rất rõ thực tế với thế giới chơi của nó; nó sẵn sàng tìm một chỗ dựa cho những đồ vật và tình huống mà nó tưởng tượng trong các thứ sờ thấy, trông thấy của thế giới thực. Chơi của trẻ con không khác gì với “Mộng giữa lúc thức”. Nhà thơ cũng như trẻ em chơi tạo ra cho mình một thế giới tưởng tượng, rất coi trọng, nghĩa là dành cho nó rất nhiều tình cảm, trong khi vẫn phân biệt rất rõ thế giới đó với thực tế. Đặc biệt tiếng Đức coi chơi của trẻ em có họ hàng với sáng tạo thơ gọi là Spiel (chơi), mọi sáng tạo văn học cần tìm chỗ dựa vào những vật sờ được và có thể biểu tượng. Người ta gọi là Lustspiel (hài kịch), Tranerspiel (bi kịch), và gọi là Schauspieler (diễn viên), người “chơi” các thứ kịch đó. Song từ tính chất phi thực tế đó của thế giới thơ, đưa lại những kết quả hết sức quan trọng cho chuyên môn nghệ thuật, bởi rất nhiều cái, nếu chúng có thật, không gây khoái cảm, song lại đạt được trong chơi tưởng tượng và rất nhiều cảm xúc, nặng nề thật, có thể trở thành một nguồn lạc thú cho thính giả hoặc khán giả”.

Huyễn tưởng và mộng trong sáng tạo văn học

“Nhân một truyện ngắn không mấy giá trị, Gradiva của W.Jensen, tôi có thể chứng minh rằng, những mộng ảo do nhà văn bịa ra có thể giải thích, nhưng những cái đó thực vậy trong hoạt động sáng tạo của nhà thơ, cũng như những cơ chế của nó của vô thức được vận hành, những cơ chế mà ta đã biết nhờ công việc chế biến của mộng”.
“Một nhà khảo cổ học, Norbert Hanold, đã phát hiện trong một bộ sưu tập đồ cổ ở Rome, một bức chạm nổi thấp làm ông hài lòng khiến ông rất vui sướng làm một khuôn hình bức chạm đó: ông đem treo nó trong phòng học của ông, ở một thành phố đại học nhỏ ở nước Đức, và nghiên cứu khi nhàn rỗi. Đây là hình ảnh một thanh nữ hoàn toàn nở hoa ở tuổi thanh xuân; cô bước đi và vén lên một chút chiếc áo có nhiều nếp khiến có thể nhìn thấy chân đi dép. Một chân đặt trên đất, chân kia đã nâng lên, chỉ còn chạm đất ở các đầu ngón, đế và gót nâng lên gần như thẳng góc. Chắc chắn rằng, cách đi hiếm thấy và hết sức duyên dáng này đã lưu ý nhà nghệ sĩ và hiện nay, sau hàng bao thế kỷ, làm mê hoặc cái nhìn của nhà khảo cổ chúng ta.
Lợi ích của người anh hùng trong câu chuyện về bức chạm nổi này là sự kiện tâm lý cơ bản của cuốn tiểu thuyết nhỏ”

Huyễn tưởng và cái dồn nén quay trở lại

Từ chỗ gặp gỡ này, sự tưởng tượng của chàng trai đem lại cho anh một người con gái như hiện tại đang sống, do đó có tên “Gradiva”: “Người đang đi tới”. Anh đi tìm cô trong những phụ nữ bắt gặp ngoài phố. Trong một giấc mộng kinh hoàng, anh nhìn thấy cô bị chôn vùi cùng với Pompei, anh khóc cho cái chết của cô và anh đi Pompei, ở đây anh nhìn thấy cô bước ra từ bức chạm nổi của một căn nhà và đi qua phố: “Có phải là một hư giác, có phải là một bóng ma thật”, “một bóng ma giữa buổi trưa”? Cô ấy nói với anh, cho anh biết tên thật là “Zóe”. Anh tưởng nhận biết trở lại ở cô một người bạn gái lúc tuổi thơ: Zóe Bergang.
“Trong những huyễn tưởng của Norbert Hanold liên quan đến Gradiva, ta đã tưởng nhận biết trở lại những chồi gốc của những ký ức bị dồn nén liên quan đến tình bạn lúc tuổi thơ đối với Zóe Bertgang. Có thể mong đợi những dồn nén như thế trở lại tấn công với một nhịp đều đặn đặc biệt, khi những tình cảm kích dục của chủ thể còn gắn với những ấn tượng bị dồn nén. Ở đây hoàn toàn có thể ứng dụng câu ngạn ngữ cổ Latinh, chắc chắn ở nguồn gốc, chỉ nhằm vào những phép trừ tà ma bằng những ảnh hưởng bên ngoài chứ không phải bằng những xung đột bên trong: Naturam furea expellas semper redebit. Song câu ngạn ngữ này không nói tất cả: nó chỉ không mô tả cơ chế thực sự tuyệt vời của sự quay lại đó như là nhờ một mưu mẹo phản trắc nhất trong các mưu mẹo. Cái phục vụ đúng như dồn nén – như cái chạc của câu ngạn ngữ - trở thành tác nhân làm cho cái bị dồn nén quay trở lại; bên trong và đằng sau cấp dồn nén, cái bị dồn nén tận cùng bằng tự khẳng định một cách thắng lợi”.
“Rối nhiễu tâm trí bắt đầu phát triển từ lúc có một ấn tượng nào đó bất ngờ đánh thức những ấn tượng của tuổi thơ đã bị lãng quên, những ấn tượng chí ít một lần mang màu sắc kích dục. Nói thức dậy cũng chưa đúng nếu ta xem xét những cái tiếp theo. Phải quy biểu tượng rất đúng của nhà văn về những thuật ngữ chuyên môn của tâm lý học. Đứng trước bức chạm nổi, Borbert Hanold không nhớ đã trông thấy hình dáng của chân người bạn gái thời thơ ấu, và anh chẳng nhớ gì cả, tuy vậy toàn bộ tác dụng của bức chạm nổi dẫn xuất từ quan hệ với ấn tượng từ thời thơ ấu. Như vậy, ấn tượng này trở nên sống động, đến nỗi bắt đầu biểu hiện tác dụng, song nó không đạt đến ý thức, nó vẫn vô thức”
“Khi một giấc mộng để lại sau đó trong một thời gian dài khác thường lòng tin vào thực tế của những hình ảnh mộng, đến mức chủ thể không tách mình ra được, thì đó không phải là một ngộ giác xét đoán do các hình ảnh mộng quá sắc sảo mà là một động tác tâm trí tự nó, có sự đảm bảo tương đối cho nội dung mộng và nói lên ở đó đúng là có một thực tế phù hợp với mộng, và người ứng mộng có lý do để thêm lòng tin vào đó. Căn cứ vào hai quy tắc đó, ta phải kết luận mộng này báo cho ta biết nơi Gradiva, ta đang tìm kiếm ở chỗ nào, một thông tin phù hợp với thực tế. Quả vậy, ta biết giấc mộng của Hanold. Ứng dụng vào mộng này những quy tắc trên sẽ đưa ta đến tìm thấy một ý nghĩa hợp lý nào chăng? Có vẻ kỳ quặc, đúng thế. Ý nghĩa này được giải trang một cách đặc biệt, để không cho phép đột nhập ngay lập tức, Hanold biết được trong mộng là người mà mình tìm ở trong cùng một thành phố với mình và là người đồng thời. Điều đó đúng với Zóe Bertgang và gần như trong mộng, thành phố này không phải là thành phố đại học Đức, mà là Pompei, thời kỳ đó không phải là hiện nay mà là năm 79 của kỷ nguyên chúng ta. Giống như một sự bóp méo do chuyển di; không phải Gradiva được mang đến thời kỳ chúng ta, mà là người ứng mộng ở trong quá khứ, song điểm chủ yếu và mới, việc anh chia sẻ với người mà anh tìm kiếm, địa điểm và thời gian, do đó, cũng đã diễn đạt. Tại sao việc chuyển vị, việc giả trang đó, phải đánh lừa ta, như bản thân người ngủ theo nghĩa đen và nội dung của mộng? Song chúng ta đã có cách để cho câu hỏi này một câu trả lời khả quan.
Xin nhớ lại tất cả những gì chúng tôi nói về bản chất và nguồn gốc của huyễn tưởng, những điềm báo trước hoang tưởng. Đó là những thế phẩm, những dẫn xuất của ký ức bị dồn nén, một sự kháng cự ngăn không cho xuất hiện vào ý thức dưới những nét thực sự, song đạt được đến đó bằng những thay đổi và biến dạng do sự kháng cự của kiểm duyệt ấn định cho. Một khi có sự nhân nhượng này rồi, những ký ức này trở thành huyễn tưởng, ý thức dễ dàng không thừa nhận, nghĩa là có thể hiểu theo nghĩa luồng tâm trí bao trùm. Ta hãy hình dung hình ảnh của mộng như những điều bịa đặt hoang tưởng, sinh lý của con người như là kết quả thoả hiệp của cuộc đấu tranh giữa cái bị dồn nén và cái tâm trí thống trị, một cuộc chiến đấu chắc chắn diễn ra ở mọi người tâm trí hoàn toàn lành mạnh và ở trạng thái thức”.

SÁNG TẠO VÀ HIỂU BIẾT TÂM LÝ

Người sáng tạo có một hiểu biết vô thức các quá trình tâm lý

“Nếu trí tuệ đưa nhà văn đến sáng tạo ra một tiểu thuyết tương đương khiến có thể tự phân tích theo cách một quan sát y học thực sự, nếu trí tuệ đó thuộc về một tri thức, thì chúng ta tò mò muốn biết những nguồn gốc của nó. Một thành viên nhóm đó, như chúng tôi đã nói từ đầu, quan tâm đến những giấc mộng của Gradiva, khả dĩ giải thích chúng, tìm đến nhà văn để hỏi xem ông có hiểu biết nào về những lý thuyết khoa học đó rất gần với những khoa học riêng của ông. Nhà văn trả lời, như ta có thể dự đoán, âm tính và có phần khó chịu. Chính tưởng tượng của ông đã sáng tạo ra Gradiva. Ông tìm thấy khoái cảm trong đó, đối với những ai nó không làm hài lòng thì chỉ việc để lại. Ông không quan tâm nó làm độc giả hài lòng đến mức nào. Rất có thể việc nhà văn không thừa nhận không dừng lại ở đó. Có lẽ ông phủ nhận đơn giản việc hiểu biết các quy tắc, theo chúng ta, ông tuân theo rất tốt và có lẽ sẽ phủ nhận mọi ý đồ mà chúng ta tìm ra trong tác phẩm của ông; rốt cuộc, không phải không đúng. Thế thì, trong hai cái chọn một, hoặc là chúng ta đã giải thích biếm hoạ bằng cách gán cho một tác phẩm nghệ thuật vô hại những ý đồ mà tác giả không nghi hoặc gì; như vậy ta đã một lần nữa chứng tỏ tìm thấy cái mà ta đã đi tìm dễ biết bao, và cái mà chính mình đầy tự tin một khả năng mà lịch sử văn học đem lại những ví dụ thích thú nhất. Mỗi độc giả tự quyết định có thể chấp nhận hay không quan điểm này: bằng lòng, tất nhiên với ta, với người khác, còn phải trình bày với ai. Chúng ta tin điều đó, nhà văn có thể hoàn toàn không biết các quy tắc và ý đồ này đến mức phủ nhận thực lòng là mình đã biết và tuy vậy ta không tìm thấy trong tác phẩm của họ có cái gì như thế. Chắc chắn chúng ta rút ra từ chung một người, nhào cùng một thứ bột, mỗi người đều dùng riêng một phương pháp chung của chúng tôi, kết quả giống như dường như chứng tỏ cả hai chúng ta đã làm việc rất tốt. Cách làm của chúng tôi là quan sát có ý thức những quá trình tâm lý không bình thường ở người khác để có thể đoán và phát biểu những quy luật. Chắc chắn nhà văn làm cách khác; ông tập trung chú ý vào vô thức của tâm hồn mình, lắng nghe tất cả những khả năng tiềm tàng đó, diễn tả chúng bằng nghệ thuật thay vì dồn nén chúng bằng phê phán hữu thức. Ông tìm biết theo cái bên trong của bản thân cái mà chúng ta biết được qua người khác; những quy luật nào chi phối đời sống của vô thức; đối với ông, không cần diễn đạt chúng, cũng không cần biết rõ, nhờ sự bao dung của trí tuệ, chúng được sát nhập vào những sáng tạo của mình. Chúng ta rút ra những quy luật đó qua phân tích các tác phẩm của ông theo cách giống như chúng ta gỡ rối trong những trường hợp bệnh tật cho nên chúng ta là tù nhân của thế giới nước đôi này: hoặc là cả nhà văn và thầy thuốc không hiểu vô thức, hoặc cả hai cùng hiểu rõ”?

VẤN ĐỀ CUỐI CÙNG

Bản chất của thiên tài sáng tạo

Nghiên cứu Phân tâm học có giải thích được thiên tài sáng tạo chăng? Nó có thể giải thích tác phẩm như là biểu đạt một cá tính, có thể xác định nguồn gốc và những yếu tố của nó. Nó có thể mô tả các quá trình tâm lý của sáng tạo là những quá trình chung của tâm lý trong mọi biểu hiện bình thường hoặc bệnh lý (vai trò của nhục dục, các huyễn tưởng và ký ức, dồn nén), nó có thể chỉ rõ sự hiện diện của thăng hoa. Song nó dừng lại ở đó. Mô tả, giải thích, chỉ rõ không phải là cung cấp lý do cuối cùng.
“Dù sự thật về cuộc đời của Léonard ra sao, ta không thể toan tính cắt nghĩa nó về mặt Phân tâm học mà không hoàn thành một nghĩa vụ nữa. Ta phải vạch ra những ranh giới chung đặt ra cho Phân tâm học trong lĩnh vực của tiểu sử, và cái này, để cho tất cả những gì ở đây không giải thích được, ta đừng coi là thất bại. Nghiên cứu Phân tâm học dùng làm tư liệu các dữ liệu tiểu sử sau đây; một mặt, các sự kiện ngẫu nhiên và ảnh hưởng của môi trường; mặt khác, những phản ứng của một cá thể cho biết. Dựa trên hiểu biết những cơ chế tâm trí, nó tìm cách xây dựng một cách động nhân cách của cá thể theo những phản ứng của y, khám phá ra những lực tâm trí nguyên thuỷ cũng như những biến đổi và phát triển về sau. Điều này có thể đạt được không trong khi thái độ trong cuộc sống của một cá nhân cho biết được cắt nghĩa bằng sự đóng góp của thể tạng và số phận, những lực bên trong và sức mạnh bên ngoài. Và khi một toan tính như vậy, có lẽ như trường hợp của Léonard, không mang lại kết quả chắc chắn, thì lỗi không phải là phương pháp của Phân tâm học, ở những thiếu sót, những kém cỏi của nó, mà là do tư liệu không đúng và những lỗ hổng trong tư liệu mà ta có về cá nhân đó. Khi đó, người duy nhất chịu trách nhiệm về thất bại là người muốn thúc ép Phân tâm học phải phát biểu xét đoán về những mẫu thiếu sót như vậy. Song dù có tư liệu lịch sử phong phú và điều kiện chắc chắn tất cả những cơ chế tâm trí đó, nghiên cứu Phân tâm học vẫn còn bất lực với hai điểm quan trọng để giải thích điều làm cho một người trở thành cái chính mình và không trở thành cái gì khác. Ta phải chấp nhận rằng ở Léonard, ngẫu nhiên ông sinh ra ngoài giá thú và sự âu yếm quá mức của mẹ ông có ảnh hưởng quyết định nhất đến sự hình thành tính cách của ông, đến số phận của ông, sự dồn nén xuất hiện sau giai đoạn tuổi thơ đó và sự thăng hoa nhục dục thành khao khát hiểu biết và không hoạt động sinh dục suốt đời. Có thể nó không diễn ra ở một cá thể khác hoặc có với một biên độ ít hơn rất nhiều. Ta phải thừa nhận ở đây một giới hạn tự do mà Phân tâm học bất lực không thể triệt tiêu. Cũng như kết quả của cơn dồn nén đó không thể coi là cái khả thi duy nhất. Một người khác không thể rút đi phần lớn nhục dục của mình khỏi cơn dồn nén bằng thăng hoa thành khao khát hiểu biết. Cũng chịu những ảnh hưởng như Léonard, họ sẽ bị một thiệt hại lâu dài cho công việc của tư duy, hoặc một thiên hướng tới những nhiễu tâm ám ảnh không chống lại được. Vậy Phân tâm học bất lực để cắt nghĩa hai đặc điểm này của Léonard: khuynh hướng cực kì tới dồn nén các bản năng và khả năng phi thường thăng hoa những bản năng nguyên thuỷ.
Bản năng và những biến thái của chúng đều là điều cuối cùng mà Phân tâm học có thể biết. Từ ranh giới đó trở đi nó phải nhường chỗ cho nghiên cứu sinh học. Khuynh hướng dồn nén và khả năng thăng hoa phải quy vào các cơ sở hữu cơ của tính cách, những cơ sở trên đó về sau xây dựng nên lâu đài tâm trí. Tố chất bẩm sinh của nghệ thuật và khả năng làm việc liên quan mật thiết đến thăng hoa, chúng tôi phải thú nhận bản chất của chức năng nghệ thuật là gì. Phân tâm học chưa đạt đến được”.

Thiên tài và sáng tạo

Vậy thiên tài, theo Freud, có là một tố chất bẩm sinh bí mật, một bí hiểm không thể nghiên cứu khoa học được? Câu trả lời định vị trí cho Phân tâm học so với – nghiên cứu sinh học mà Freud đặt ít nhiều hi vọng. “Nghiên cứu sinh học cận đại có chiều hướng cắt nghĩa những nét chủ yếu của thể tạng hữu cơ của người bằng hỗn hợp những thiên hướng đực và cái, theo nghĩa vật chất…” – So với một triết học về tính tất yếu tự nhiên.
“Trong cuộc sống của chúng ta, đúng là mọi cái đều ngẫu nhiên từ khi đẻ ra do tinh trùng và trứng gặp nhau; một ngẫu nhiên tuy vậy nằm trong toàn bộ những quy luật và tất yếu của tự nhiên và chỉ thiếu quan hệ với những ham muốn và ngộ giác của chúng ta. Đường phân cách giữa những quyết định cuộc sống cá nhân của ta với những “tất yếu” của thể tạng chúng ta, hoặc với những tất yếu trong tuổi thơ của chúng ta, chưa được vạch ra chắc chắn ta không được phép nghi ngờ tầm quan trọng của những năm đầu thời thơ ấu của ta. Ta còn quá ít tôn trọng tự nhiên, theo những lời khó hiểu của Léonard, những lời đã báo trước của Hamlet “nó đầy những lý do vô tận không bao giờ có trong thực nghiệm”… Mỗi ngày, mỗi chúng ta đáp ứng một trong những lần làm thử nhiều không kể xiết theo đó “những lý do của Tự nhiên chen chúc nhằm để đi tới tồn tại”.
Huyền Giang dịch
từ bản tiếng Pháp: Marie-Thérèse Laveyssière, Freud, Choix de textes,
Paris, 1984