Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

Con người trong văn học Nga cổ

 

CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC NGA CỔ

D. LIKHACHEV

Phạm Xuân Nguyên dịch

 

MỤC LỤC

 

Những nhận xét dẫn luận

Chương một. Vấn đề tính cách trong các tác phẩm lịch sử đầu thế kỷ XVII

Chương hai. Phong cách của chủ nghĩa lịch sử hoành tráng thế kỷ XI – XIII

Chương ba. Những đặc điểm của phong cách sử thi trong văn học thế kỷ XI – XIII

Chương bốn. Phong cách biểu cảm – cảm xúc cuối thế kỷ XIV – XV

Chương năm. “Tính chất hòa dịu tâm lý” thế kỷ XV

Chương sáu. Lối viết tiểu sử lý tưởng hóa thế kỷ XVI

Chương bảy. Sự khủng hoảng của cách lý tưởng hóa con người thời trung đại trong thể loại hạnh thánh.

Chương tám. Từ tên tuổi lịch sử của nhân vật văn học đến tên tuổi hư cấu

Chương chín. Những sự khác biệt thể loại trong việc phản ánh con người

Chương mười. Những khám phá về giá trị cá nhân con người trong văn học dân chủ thế kỷ XVII

Chương mười một. “Phong cách baroco” nửa sau thế kỷ XVII

Những nhận xét kết luận

Bảng chỉ tên

Bảng chỉ tác phẩm

Bảng chỉ đối tượng - đề tài

 

 

 

 

 

Mấy lời vào sách

Cuốn sách này dành cho con người trong văn học Nga cổ.

Trong sách trình bày cái nhìn nghệ thuật về con người trong văn học Nga cổ và các biện pháp nghệ thuật thể hiện nó. Độc giả sẽ không tìm thấy nó những định danhhình thứcvà “nội dungnhư vốn có, nhưng tất cả nó xét đến cùng đều hướng đến việc xem xét hình thức nghệ thuật trong sự thống nhất sống động với nội dung.

Con người luôn là đối tượng trung tâm của sáng tạo văn học. Tất cả những cái còn lại đều gắn với việc phản ánh con người: không chỉ sự phản ánh hiện thực xã hội, đời sống, mà cả phản ánh thiên nhiên, sự biến đổi lịch sử của thế giới. Gắn chặt với việc con người được phản ánh như thế nào là tất cả các phương tiện nghệ thuật được nhà văn sử dụng.

Văn học Nga cổ đã biết đến một số phong cách trong sự phản ánh con người (1). Về cơ bản chúng lần lượt thay thế nhau, nhưng đôi khi cùng tồn tại song songtrong các thể loại khác nhau, phục vụ những nhu cầu khác nhau của xã hội.

Tất nhiên, một phong cách nào đó trong sự phản ánh con người tương đối hiếm khi lộ ra dưới dạng hoàn toànthuần túy”. Các ngoại lệ là vĩnh hằng. Khi xác định một phong cách nào đó, chúng tôi chỉ hàm ý những hiện tượng nổi trội. Các hệ thống phong cách thường xuyên bị phá vỡ. Đó là quy luật: nếu không có những sự phá vỡ các hệ thống phong cách thì sẽ không có sự chuyển động lên trước của văn học. Khi khôi phục một hệ thống phong cách nào đó trong sự phản ánh con người, chúng tôi muốn trước hết tạo cho độc giả hình dung sống động về hệ thống đó, sự cảm nhận trực tiếp phong cách.

P.Ya.Chaadaev viết: “Như vậy, đây là quy tắc của chúng tôi: chúng tôi sẽ suy nghĩ về các sự kiện mà chúng tôi biết, và cố gắng lưu giữ trong đầu những hình ảnh sống động nhiều hơn là một thứ tài liệu chết” (2).

Độc giả sẽ tìm thấy trong sách các bức tranh từ những tác phẩm hội họa. Mục đích của chúng là cho thấy sự tương ứng trong việc phản ánh con người văn học và hội họa. Những sự tương ứng này trong nhiều trường hợp cho phép hiểu sâu hơn và cảm nhận rõ hơn đặc điểm của một phong cách nào đó trong sự phản ánh con người, nhưng không nên tuyệt đối hóa những sự tương ứng đó.

Trong một số trường hợp hội họa vượt quá văn học và đem lại những sự phản ánh con người hoàn thiện hơn, trong một số trường hợp khác thì văn học lại vượt quá hội họa. Hội họa nổi danh thế giới của Andrei Rublev và thời ông vượt hơn văn học bởi sự phân tích tâm lý tinh tế và sự đi sâu vào thế giới bên trong của con người. Nhưngsự biện hộ cho ngườivà khám phá giá trị của cá nhân con người diễn ra trong văn học dân chủ tk XVII không tìm thấy những sự tương ứng trực tiếp nào trong hội họa cùng thời ấy. Sự hòa hợp đầy đ nhất các nguyên tắc nghệ thuật của việc phản ánh con người trong văn học và hội họa chúng ta sẽ tìm thấy phong cách hoành tráng tk XIXIII. Đặc trưng của thời đại này là sự tổng hợp đầy đ tất cả các nghệ thuật: hội họa hoành tráng (tranh khảm, tranh tường) phụ thuộc vào các hình thức kiến trúc, kiến trúc bằng các bề mặt đơn giản của mình lại là cơ sở thuận lợi cho hội họa hoành tráng. Chữ viết chủ yếu dùng đ đọc to lên trong các bữa ăn tu viện (hạnh thánh của các vị thánh), đ phát ra trong các nhà thờ (giảng đạo), đ tạo ra khung cảnh trang nghiêm của lối sống quý tộc là đáp ứng các nhu cầu mà kiến trúc và hội họa đã phát triển phong cách hoành tráng chung với nó trong sự phản ánh con người.

Ngoài ra, những tương quan của văn học với các nghệ thuật khác đòi hỏi phải được nghiên cứu kỹ. Trong sách này chỉ điểm qua.

Các chương của sách này không theo trình tự niên đại của quá trình lịch sử văn học. Cuốn sách không nhằm trình bày lịch sử phản ánh con người, dù cần phải đưa ra tài liệu cho lịch sử đó, khi nêu lên một số vấn đ chung gắn với sự thay đổi các hình thức phản ánh con người.

Tiện nhất là bắt đầu cuốn sách từ bước ngoặt trong sự phản ánh con người, từ cuộc khủng hoảng của cách thức phản ánh con người thời trung đại xảy ra vào đầu tk XVII. Sau đó quay lại thời phát triển cổ điển của phong cách hoành tráng trung đại trong sự phản ánh con ngườitk XIXIII. Tiếp đến sách sẽ có những chương mô tả các phong cách riêng biệt và đ cập đến những vấn đ riêng của sự phản ánh con người.

Tính khác loại của tài liệu đôi khi quy định tính khác loại của các chương. Một số chương là nói về những hệ thống phong cách lớn đã hoàn chỉnh về bên trong và được thể hiện trong nhiều tác phẩm (như phong cách của chủ nghĩa lịch sử hoàng tráng hay phong cách biểu hiện cảm xúc). Những chương khác chỉ nêu lên những yếu tố của các phong cách bộ lộ yếu (phong cách sử thi, phong cáchhòa dịu tâm lý”). Lẽ tự nhiên, các chương có khối lượng tài liệu thực tế rất khác nhau.

Trước mắt độc giả là lần in thứ hai cuốn sách của tôi – “Con người trong văn học Nga cổ”. Từ lần in đầu (Moskva, Leningrad, 1958) đã hơn mười năm trôi qua. Trong thời gian đó đã có thêm nhiều tài liệu mới được thu thập góp phần khẳng định và phát triển những đặc điểm riêng lẻ của các phong cách trong sự phản ánh con người, nhưng tôi quyết định không đưa chúng vào sách. Làm thế cuốn sách sẽ phình lên và mất đi tính toàn vẹn của mình. Vấn đ thực ra không phải khối lượng tài liệu, mà tính thuyết phục của chúng. Vì thế tôi chỉ giới hạn một số chỗ nói rõ thêm, chính xác thêm. Cái tôi quan tâm là những bài điểm sách về lần in thứ nhất trong nước và ngoài nước, cũng như nhận xét được nêu ra cho tôi trong các thư riêng của B.M.Eikhenbaum và N.N.Voroniny.

Giúp tôi sưu tầm các tranh minh họa là N.A.Demin và I.A.Ivanov, cũng như N.G.Porfiridov, tôi vô cùng biết ơn họ.

 

 

 

 

 

 

 

Chương một.

Vấn đ tính cách trong các tác phẩm lịch sử đầu thế kỷ XVII

 

Trong sử học Ngadưới dạng như nó được viết ra bởi các nhà sử học quý tộc và tư sản thế kỷ XIXcó một điều lạ lùng đáng băn khoăn.

Những tính cách mạnh mẽ và những cách khắc họa rực rỡ về các nhân vật mạnh mẽ này xuất hiện trong sự trình bày lịch sử chỉ từ thế kỷ XVI.

Điều này đặc biệt thấy rõ Karamzin. Karamzin đặt cho mình một trong những nhiệm vụ chính là khám phá cho độc giả thấytính cách các nhân vật cổ xưa của chúng ta”. Và chính ông đã thú nhận điều đó: “Cho đến nay (tức đến thế kỷ XVI) tôi chỉ mới khôn khéo, cầu kỳ tìm cách thoát ra khỏi những khó khăn. Tôi thấy phía sau mình là cả một thảo nguyên cát châu Phi” (1). Tính cách đầu tiên mà “thảo nguyên châu Phinày gián đoạn đó, đối với Karamzin là tính cách của Lôi Đế.  Trong thư gửi A.I. Turgenev ông báo tin: “Tôi vừa hoàn thành Vasili Ivanovich và đang thầm nghĩ đến Lôi Đế, một tính cách vinh quang biết bao cho hội họa lịch sử! Thật tiếc nếu viết sử mà không nói đến thời kỳ trị vì đáng chú ý này! Sử khi đó sẽ giống như con công không có đuôi” (2).

Dường như Ivan Lôi Đế là tính cách mạnh đầu tiên trong sự trình bày lịch sử Nga. Tiếp sau là một loạt nhân vật khác: Boris, Samozvanets, Germogen

Chúng ta cũng tìm thấy tư tưởng như vậy về sự vắng thiếu, trước Lôi Đế, các tính cách mạnh trong các nguồn sử liệu Nga V.O.Klyuchevsky: “Các thư tịch lịch sử thế kỷ XIV và XV không đưa lại cho chúng ta khả năng tái hiện sống động diện mạo của mỗi một vị bá tước này. Các vị bá tước vĩ đại Moskva trong các thư tịch đó chỉ là những hình thù khá mờ nhạt thay nhau kế thừa trên cái thân cây dòng họ bá tước lớn lao dưới những cái tên Ivan, Semen, rồi một Ivan khác, Dimitri, Vasili, rồi một Vasili khác. Nhìn vào họ dễ thấy rằng hiện ra trước chúng ta không phải là những cá nhân đặc sắc, mà là những sự lặp lại đơn điệu của cùng một kiểu dòng họ. Tất cả các bá tước Moskva trước Ivan III đều giống nhau như hai giọt nước, khiến cho nhà quan sát đôi khi khó phân biệt ai là Ivan, ai là Vasili” (3).

Cả Klyuchevsky và Karamzin đều cho rằng những cách khắc họa rõ nét tính cáchcác nhân vật cổ xưacủa lịch sử Nga bắt đầu chỉ từ nhân vật Lôi Đế.

 

Chúng ta nhớ rằng cả các nhà sử học khác, cả trong văn chương lịch sử, kịch lịch sử và hội họa lịch sử, những tính cách chính thu hút nhất sự chú ý của các nhà khoa học, các nhà thơ, nhà viết kịch, nhà văn, họa sĩ nhất – đó là Lôi Đế, Boris, Samozvanets, Shchuisky, Germogen, v.v. Giải thích thế nào tình hình lạ lùng đó? Chẳng lẽ quả thực những tính cách phức tạp và mạnh mẽ xuất hiện trong lịch sử Nga chỉ từ khoảng giữa thế kỷ XVI?

Như đã thấy rõ từ những lời trên đây của Klyuchevsky và như sẽ thấy rõ tiếp đây, nhiều điều trong hoàn cảnh này phụ thuộc vào chính các nguồn sử liệu. Điều này nổi rõ nhất Karamzin, người đã đặt cho mình nhiệm vụ chính là phỏng thuật một cách nghệ thuật các nguồn sử liệu cổ. Nhưng ngay trong những trường hợp khác, khi chúng ta tiếp xúc với sự tái tạonghệ thuậthiện thực lịch sử ( Soloviev, Klyuchevsky) chúng ta cũng thấy sự tuân theo các nguồn sử liệu, tuân theo các cách khắc họa tính cách của chúng như vậy. Hình tượng các nhà hoạt động lịch sử Nga nửa sau thế kỷ XVI – đầu XVII đã được gợi ý bởi các nguồn sử liệu chủ yếucó tính nghệ thuậtnày. Nhưng cách khắc họa giống nhau kỳ lạ được tạo nên trong lối viết sử đầu thế kỷ XVII đã tác động đến toàn bộ lối viết sử về sau. Các sự kiện được bàn định lại, nhưng các cách khắc họa thì không. Mọi thông tin có tính chất riêng tư được cân nhắc cẩn thận, nhưng khi phác họa các nhân vật hoạt động của lịch sử thì các nhà khoa học và các nhà văn thời mới một thời gian dài vẫn bị cầm tù các hình tượng nghệ thuật do các tác giả đầu thế kỷ XVII tạo nên.

Đầu thế kỷ XVII là khi tính cách con người đượcmở racho các nhà văn lịch sử, hiện ra trước họ như một thể phức tạp và mâu thuẫn (4). Trước thế kỷ XVII vấn đtính cáchnói chung không nằm trong văn chương tự sự. Văn chương của nước Nga La tư cổ xưa chỉ chú ý đến những trạng thái tâm lý riêng biệt. Như tiếp đây chúng ta sẽ thấy, sự chú ý này thế kỷ XIV và các thế kỷ sau đó đôi khi bị quá mức. Các trạng thái tâm lý, các tình cảm, đam mê riêng rẽ của con người được nhìn từ khoảng cách gần đến mức chúng choán lấp cả con người, chúng bị phóng đại lên và không liên kết gì với nhau. Các thể loại hạnh thánh, thời ký, văn chương giáo huấn tôn giáo đã mô tả những cơn đột biến tinh thần, dạy cho biết vềbậc thang đam mê”, về sự tự phát triển của các tình cảm, v.v. Sự quan tâm này đến tâm lý con người nhằm những mục đích đặc biệt mà loại văn chương hạnh thánh và truyền đạo đặt ra cho mình. Một khối kinh nghiệm to lớn trong việc nghiên cứu tâm lý con người đã không được áp dụng cho các nhân vật thế tục của lịch sử Nga.

Những ranh giới thể loại trong văn học Nga cổ, như chúng ta sẽ thấy về sau, lớn đến mức kinh nghiệm của một thể loại này khó thể chuyển ngay sang một thể loại khác. Cái dường như thích dụng khi phân tích tâm lý của một kẻ tội phạm bình thường, một con người bình thường, là đối tượng thuyết giảng của nhà thờ hoặc khi phân tích tâm lý của một vị thánh, không phải ngay lập tức có thể chuyển sang những nhân vật hoàn toàn thế tụcmột bá tước Nga, một điền chủ Nga, một vị tướng lĩnh.

Đấy là lý do vì sao khả năng đi sâu vào tâm lý của nhà hoạt động lịch sử, phân tích không phải là đối tượng của những suy nghĩ giáo huấn trừu tượng, không phải là một vị thánh lý tưởng, không phải là một tình cảm, một trạng thái tâm lý nào đó của con người, mà là người đương thời cụ thể, đã trở thành cả một phát minh trong văn học. Và “phát minh” đó gây sửng sốt trí tưởng tượng của các nhà văn lịch sử đến nỗi họ chủ yếu hướng sự chú ý của mình đến chính đó, đến sự phức tạp của cá nhân con người, đặt nó vào trung tâm các tác phẩm của mình và biến thái đ của mình đối với các tính cách lịch sử thành đối tượng viết chủ yếu của mình. Các cách khắc họa họ làm với những người đương thời mình đã khiến cho các nhà sử học thế kỷ XIX tưởng là “những tính cáchtrong lịch sử Nga xuất hiện chỉ từ Lôi Đế.

Ngay thế kỷ XVI một kiểu tác phẩm lịch sử mới và một kiểu quan hệ mới đối với chính tài liệu lịch sử đã dần hình thành. Những nguyên tắc biên niên sử cũ – biên soạn các bộ sưu tập, trong đó những thư tịch có trước được giữ lại như một thứ tài liệu (5), sang đến thế kỷ XVI đã lung lay mạnh. Các tác giả của những tác phẩm lịch sử thế kỷ XVI chủ yếu vận hành theo hai nguyên tắc mới: sự thống nhất quan điểm về các sự kiện lịch sử và sự thống nhất đ tài của các tác phẩm lịchsử.

Đòi hỏi sự thống nhất quan điểm về toàn bộ quá trình lịch sử được mô tả thể hiện trước hết thái đ của các tác giả đối với tài liệu được lấy làm nguồn cho công việc của họ. Các nhà biên niên sử thế kỷ XIXV xử lý các bộ biên niên họ sử dụng rất ít ỏi và thận trọng. Họ cố giữ gìn các văn bản nguồn. Vì thế trong biên niên sử không có một quan điểm tác giả duy nhất, mà thể hiện cái nhìn của nhiều tác giả, được biên tập qua bởi nhà biên niên sử sau cùng, người tập hợp các văn bản biên niên có từ trước. Trong biên niên sử trước thế kỷ XVI tính đa giọng thống trị. Các nhà sử học thế kỷ XVI, dù đó là tác giả của Sách Mức Đ hay tác giả Lịch sử vương triều Kazan, đã nỗ lực xử lý tài liệu họ sử dụng nhằm đạt đến sự thống nhất của toàn bộ sự trình bày: thống nhất về tư tưởng và thậm chí cả phong cách. Họ muốn toàn bộ sự trình bày lịch sử phải phụ thuộc chặt chẽ và thường xuyên vào một quan điểm duy nhất của tác giả. Quan điểm chính trị của các tác giả các tác phẩm lịch sử chưa bao giờ trước đây được nói ra rõ ràng đến thế, chưa bao giờ trước đây được trình bày kiên trì đến thế. Các tác giả của các tác phẩm lịch sử thế kỷ XVI đã bộc lộ lòng yêu lao động khác thường đ vượt qua mọi khó khăn, trong đó có những khó khăn về phong cách (chúng ta hãy nhớ lại sự gia công phong cách của Sách Mức Đ, Lịch sử vương triều Kazan). Một quan điểm duy nhất của tác giả được trình bày nhất quán đã xuất hiện, một phong cách mang tính cá nhân của tác giả - thể hiện rõ rệt hơn trước, đã phát triển.

Đòi hỏi sự thống nhất về đ tài dẫn đến sự hình thành một kiểu tự sự lịch sử mới: các tác phẩm viết về một thời kỳ lịch sử nhất định hoặc một nhân vật lịch sử. Các bộ biên niên sử trước đó theo thường lệ bắt đầu từkhai thiên lập địa”, hoặc từ sự mở đầu của đất đai Nga. Ngay những bộ sử hẹp của từng vùng cũng thường mở ra với sự trình bày ngắn gọn các sự kiện đã được ghi trong Truyện niên đại, hoặc với những đoạn trích ngắn từ các thời ký. Kiểu trình bày biên niên sử này vẫn còn được giữ lại thế kỷ XVI (biên niên sử Nikonov, sử tập Litseva), nhưng bên cạnh đó đã có một hình thức tự sự lịch sử mới: “Nhà viết sử đầu triều đại của nhà vua và bá tước vĩ đại Ivan Vasilievichchỉ nói về Lôi Đế; “Lịch sử về bá tước vĩ đại Ivan Vasilievich Moskvacũng chỉ nói về Lôi Đế; Lịch sử vương triều Kazan chỉ kể về Kazan, v.v. Trong tất cả các tác phẩm này sự thống nhất đ tài đã làm nhẹ đi sự bao trùm toàn bộ câu truyện bằng sự thống nhất quan điểm, và ngược lại, một quan điểm duy nhất đã thu gọn tự sự lịch sử về một đ tài: tiểu sử của một quân vương, mô tả lịch sử một thành phố, một công quốc, hoặc về một bản tổng quan các sự kiện lịch sử trong một thời kỳ nhất định.

Nhưng ngoài hai cái mới có liên quan đến nhau này của lối tự sự lịch sử thế kỷ XVIsự thống nhất quan điểm về các sự kiện lịch sử và sự thống nhất đ tài của tự sự lịch sử - ngay thế kỷ XVI cũng đã có chú ý đến cá nhân lịch sử. Chính cá nhân lịch sử được đặt vào trung tâm của tự sự lịch sựNhà biên niên mở đầu vương quốc”, “Lịch sử bá tước vĩ đại Moskva”, Sách Mức Đ. Trong Sử tập biên niên Nikonov sự chú ý này đến cá nhân lịch sử bộc lộ lối khắc họa tính cách theo lối từ chương (nhất là trong các bài tang lễ), trong việc kèm theo những chỉ dẫn phổ hệ khi nhắc đến các nhân vật lịch sử, trong sự nêu lên tỉ mỉ động cơ hành động của nhân vật lịch sử nào đấy.

Nhưng cần nhận thấy rằng những thời kỳ đầu chỉ có thể nói về sự phát triển hứng thú đối với những cá nhân lịch sử, với sự đ cao trọng lượng của họ trong tự sự lịch sử, chứ không phải về sự xuất hiện quan hệ mới đối với các cá nhân đó, không phải về cách hiểu mới đối với các tính cách của họ. Điều này thấy khá rõ dù chỉ là qua thí dụ Sách Mức Đ. Sách Mức Đ là thí dụ rõ ràng về sự chú ý đến cá nhân của các nhà hoạt động lịch sử Nga. Trong đó toàn bộ lịch sử Nga được quy về tiểu sử của các bá tước và các đại giáo chủ lớn, về các đặc điểm tính cách của họ.Nhưng trong mỗi tiểu sử và tính cách đó chưa có cái gì mới về chất. Tất cả kho phương tiện đ khắc họa tính cách Sách Mức Đ đều vay mượn, như đã nhiều lần được chỉ ra, từ văn bản hạnh thánh hay hiếm hơn nữa là từ Thời ký. Sách Mức Đ là hiện tượng song song với Sách Đọc Hàng Tháng (một loại sách hạnh thánh) và không phải ngẫu nhiên mà cả haibách khoa thư” này đều xuất ra từ cùng một nhóm người ham sách. Nhưng sự ca tụng của hạnh thánh chưa phải là sự khắc họa tính cách theo nghĩa đầy đ của từ này: “Hạnh thánh không phải là tiểu sử, - V.O.Klyuchevsky nói, - mà là bài hùng biện ngợi ca mang tính giáo huấn trong khuôn khổ tiểu sử, cũng như hình tượng vị thánh trong hạnh thánh không phải là chân dung, mà là tượng thánh” (6).

Như vậy, thế kỷ XVI có sự nổi lên của hứng thú đối với các cá nhân lịch sử, nhưng sự nổi lên đó chỉ mới về lượng, còn về chất thì vẫn như cũ. Cách hiểu mới về tính cách con người bắt đầu hình thành chỉ trong các tác phẩm của thế kỷ XVII viết về cuộcHỗn loạn” (7). Chính chúng là đối tượng nghiên cứu chính tiếp đây của chúng tôi.

Các tác phẩm lịch sử nửa đầu thế kỷ XVII viết vềHỗn loạnkhác biệt hẳn những biên niên sử trước đó bởi một loạt những đặc điểm mà trước hết là bởi sự chú ý mạnh đến tính cách con người và đến thái đ mới đối với họ. Những đặc điểm tính cách từ nay trở thành một trong những mục đích chính của tự sự lịch sử, chúng không chỉ được tăng lên về lượng mà còn thay đổi về chất. Thực chất cuốnNgười đương thờicủa viên trợ tế Ivan Timofeev là tập hợp những nét tính cách của các nhà hoạt động trongHỗn loạnvà của các sự kiện trongHỗn loạn”. Do đó tác  giả không nhằm đến mô tả đầy đ thực tế và trình bày nhất quán theo niên đại các sự kiện. Timofeev không mô tả các biến cố mà bình luận chúng. “Người đương thờicủa ông không nổi bật cách trình bày liên tục nhất quán khi đ cập các sự kiến sau sự trị vì của Shuisky: đó là những sự khái lược và khắc họa tính cáchnhất là khắc họa tính cách.

Cũng như vậy, cuốnNgữ lục ngày tháng của các quốc vương và thánh chủ Moskvacủa Ivan Khvorostinin chủ yếu gồm những phác họa tính cách của các nhà hoạt động thờiHỗn loạn”, bắt đầu từ Boris Godunov. Trong bài dẫn cho công trình của mình Khivorostinin đã nói rõ mục đích: ông muốn miêu tảnhững vị linh mục các thánh địa của chúng ta”, chiến côngcủa những người đàn ông cao thường, những kẻ tuẫn đạo không đ máu, những người chiến thắng” (8).

Cũng có thể nói như vậy về cuốnTruyện kểcủa bá tước I.M.Katyrev-Rostovsky mà cuối sách đặc biệt có thêm phầnGhi chép ngắn gọn về các quốc vương Moskva, về các mẫu mực của họ, về tuổi tác và về các phong tục” (9).

Trong một mức đ nhất định thì cảTruyền thoạicủa Avraami Palitsyn, cảTruyền thoại khácvà “Truyện kểcủa S.Shakhovsky, cũng như nhiều cuốn khác, đều nổi bật khuynh hướng bàn luận về tính cách của các cá nhân lịch sử.

Toàn bộ văn học viết về thờiHỗn loạn” được đánh dấu bằng hứng thú luận giải các sự kiện, chứ không phải ghi chép, nhất là hứng thú với các tính cách của những người tham gia các sự kiện đó. Nhưng đặc điểm mới này của ý thức lịch sử nổi lên rõ nhất trong các mục từ Nga của sách Thời ký bản biên soạn lần hai. Những phẩm chất văn học của bản biên soạn lần hai Thời ký và ý nghĩa của nó trong sự phát triển của tri thức lịch sử Nga La Tư cho đến nay vẫn chưa được đánh giá đầy đ.

Bản thân thành phần của Thời ký bản biên soạn hai đã cho thấy tác giả của nó là một người có tầm quan tâm lịch sử rộng lớn khác thường. Thể loại thời ký trên toàn thế giới trước đó, trong khoảng từ thế kỷ IX đến thế kỷ XVII, đều lệ thuộc vào các nhiệm vụ tôn giáo một mức đ lớn hơn biên niên sử Nga nhiều. Lịch sử toàn thế giới được giải thích chủ yếu như là lịch sử của giáo hội, như là lịch sử của chính giáo chống lại dị giáo. Bản biên soạn lần hai của Thời ký là bước đi đầu tiên và to lớn trên con đường thế tục hóa thể loại thời ký Nga. Điều này thấy rõ những chỗ bổ sung mà tác giả bản biên soạn lần hai đưa vào cho nội dung chính của Thời ký. đó có những đ mục mới lấy từ biên niên sử của Ellinsky (chủ yếu là những đoạn trích từ Biên niên của Joann Malala liên quan đến lịch sử thời cổ), đó có những tác phẩm của Ivan Peresvetov, có những đoạn bổ sung từ biên niên đạo Thiên Chúa của Martin Velsky và Konrad Likosten. Từ hai nguồn sau này được lấy ra những đ mục có nội dung địa dư (chẳng hạn nói về việc phát hiện ra châu Mỹ), những đ mục về huyền thoại cổ xưa hay những đ mục chung về đạo Mahomet, về lịch sử các giáo hoàng, lịch sử các nước Tây Âu, lịch sử Ba Lan. Rõ ràng tất cả những cái đó không liên quan gì đến lịch sử đạo chính thống, thậm chí còn trái ngược nó. Cũng không kém phần hứng thú là những đ mục được đưa vào mô tả vẻ ngoài của Đức Mẹ và vẻ ngoài của Christ. Điều đó cho thấy sự quan tâm đếnchân dungthực tế.

Nhờ tất cả những chỗ bổ sung này Thời ký bản biên soạn lần hai (1617) mang tính chất thế tục đậm nét hơn Thời ký bản biên soạn lần một (1512) trước đó. Nhưng tính chất thế tục này của Thời ký bản biên soạn lần hai bộc lộ rõ rệt nhất câu truyện tỉ mỉ về các sự kiện thờiHỗn loạn”.

Như đã nói từ lâu (10), truyện kể của Thời ký bản 1617 về các sự kiện của lịch sử Nga tk XVI – đầu tk XVII đã làm thành một tác phẩm thống nhất và chặt chẽ. Điều đó được cảm thấy không chỉ sự thống nhất về tư tưởng và phong cách, mà còn được chính tác giả nhấn mạnh bằng những lời dẫn thường xuyên đan chéo nhau: “về chàng sẽ được nói đến trong cuộc đánh chiếm Tsaregradsky” (11), “về chàng sẽ còn được nói đến” (12)…

đây điều quan trọng cần chú ý là bản thân tác phẩm này, cũng như tất cả kết cấu của bản biên soạn lần hai Thời ký đều đi theo con đường thế tục hóa tài liệu lịch sử. Trong nó không có sự viện dẫn thánh kinh, không có sự giải thích tôn giáo cho các sự kiện. Tác giả không gán cho thờiHỗn loạnlà sự trừng phạt của thánh thần vì những tội lỗi của người Nga như cách mà những người khác biên soạn các tác phẩm lịch sử nửa đầu tk XVII đã làm.

Tinh thần thế tục này thấm vào toàn bộ hệ thống khắc họa tính cách của các nhà hoạt động lịch sử Nga. Trước mặt chúng ta trong Thời Ký bản biên soạn lần hai thực sự là cả mộthệ thốngnhững nét tính cách: về lý thuyết nó được trình bày bằng những câu ngắn gọn nhưng rất có ý nghĩa và về thực tế nó được dùng đ phản ánh các nhân vật hoạt động thờiHỗn loạn”. “Hệ thốngnày trái ngược với hệ thống trung đại, nó hoài nghi những nguyên tắc cơ bản của lối viết tiểu sử các thánh. Trong nó không có sự đối lập gay gắt người thiện và kẻ ác, người có tội và người vô tội, không có sự phê phán nghiệt ngã người có tội, không có sựtuyệt đối hóacon người như vốn có đối với hệ thống thế giới quan lý tưởng hóa thời trung đại.

thời trước con người, nhất là trong tài liệu hạnh thánh, hiện ra hoặc là cực tốt, hoặc là cực xấu. V.Yablonsky, nhà nghiên cứu sáng tác của Pakhomi Serbo viết: “Những người tu khổ hạnh trong cách viết của Pakhomi sinh ra và chết đi như những vị thánh. Sự không phù hợp này với quy luật phát triển tự nhiên của mỗi đời sống con người không cản trở các tác phẩm của Pakhomi trở thành những sự tụng ca giáo huấn: nhìn vào cuộc đời của các vị tu khổ hạnh chúng ta không thấy một vết đen nào từ thời nhỏ bé đến khi kết thúc viên mãn tuổi già…” (15). Sự thật, trong văn học viết về lịch sử, sự lý tưởng hóa này và sự tuyệt đối hóa thường bị phá vỡ, nhưng những sự phá vỡ đó là vô thức, chúng không nằm trong dự đ nghệ thuật của tác giả, chúng diễn ra dưới tác động của chính thực tế đưa lại tài liệu cho trí tưởng tượng của con người, hoặc dưới tác động của những khuôn mẫu văn học mà nhà văn sử dụng. Những nét trái ngược có thể thấy trong sự thể hiện Dracula trongTruyện về vị tướng Mutyansky của Dracula” (ông ta công bằng, đồng thời cũng khắc nghiệt), trong sự thể hiện các nhân vật biên niên riêng rẽ. Nhưng tính chất trái ngược trong tính cách của nhà hoạt động lịch sử chưa bao giờ được viết riêng biệt ra. Nó chưa được ý thức, chưa được tác giả nói ra, mặc dù đã được phản ánh một cách vô tình. Chưa bao giờ các nhà văn lịch sử có ý thức đặt cho mình mục đích mô tả sự trái ngược đó. Nó hiện ra như là tự phát, hiện ra trong cảm nhận của độc giả, chứ không phải trong ý đ và càng không phải trong những tuyên bố của các tác giả.

Lần đầu tiên các nhà văn lịch sử công khai nói về tính chất mâu thuẫn, trái ngược trong tính cách con người chỉ là vào đầu tk XVII. Điều này đặc biệt hiện rõ Thời ký bản biên soạn lần hai. Tính cách con người được tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký nói rõ là được dệt nên từ các mâu thuẫn, nó phức tạp và trong chừng mực nào đó là “tương đối”, phù hợp với môi trường, điều kiện sống, đặc điểm tiểu sử. “Vì thế không có con người trần thế nào là thanh sạch trong hạnh thánh của mình” (17) – tác giả Thời ký tuyên bố. “Nhưng vì thế không có ai là được khen là trong sạch trước sự hằn học độc ác của kẻ thù”, - ông nhắc lại. “Trong mọi đầu óc trần thế con người là tội lỗi, bị cái ác lôi kéo khỏi cái thiện” (18), nói cách khác, - mỗi người cách này hay cách khác đều bịlôi kéo lạc đườngkhỏi điều thiện mà hắn vốn có khi sinh ra. Do đó, thứ nhất, không có người chỉ ác hay chỉ thiện, thứ hai, tính cách con người do cuộc sống tạo nên.

Thí dụ sống động về sựlôi kéo lạc đườngtừ thiện sang ác là Ivan Lôi Đế. Thoạt đầu Lôi Đế là mẫu mực của một vị vua hiền từ, thông thái và dũng cảm: “Ông…”

Nhưng khi Anastasia Romanova, người giúp ông giữ gìn bản tính thiện chết đi, tính cách ông thay đổi hẳn, không còn chút gì của khi trước nữa. Hiện ra trước chúng ta là một con người khác, với tính cách hoàn toàn trái ngược: “Người vợ của ông…”

Nếu trong cách khắc họa tính cách của Lôi Đế tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký còn bị phụ thuộc vào bản của Kurbsky và do đó phân bổ các đức hạnh và những sự độc ác của Lôi Đế theo thời gian, cái tốt là nửa đầu thời gian trị vì, còn cái xấu nửa sau, thì trong tất cả những sự khắc họa tính cách về sau tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký không còn theo cách phân bổ máy móc các phẩm chất của tính cách theo thời gian như vậy nữa. Ông đặt chúng cùng lúc vào trong một con người và như vậy lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng lịch sử Nga đã có ý thức tạo ra cách khắc họa tính cách mang mâu thuẫn cuộc sống cho các nhân vật lịch sử, tạo ra những hình tượng chứa đầy những mâu thuẫn kiểuShakespeare”, kịch hóa lịch sử bằng sự vật lộn tâm hồn, mang vào trong chúng những xung đột, đấu tranh, dựng nên những tính cách mà về sau thực sự lôi cuốn sự chú ý của các nhà viết kịch.

Cách khắc họa tính cách Boris Godunov rất có ý thức tô đậm mâu thuẫn; những phẩm chất trái ngược của bản tính ông dường như được cố ý đặt song chiếu, cạnh nhau trong cùng một câu đ nhấn mạnh sự tương phản: BorisNếu như…”21

Cách khắc họa chi tiết tính cách Boris mở đầu cho sự thuật lại thời trị vì của ông trong bản biên soạn lần hai Thời ký là hoàn toàn dựa trên sự kết hợp các phẩm chất tích cực và tiêu cực trong tính cách của ông: “Quốc vương…”

Các đặc điểm tính cách của đại giáo chủ Germogen cũng được dệt nên từ những nét trái ngược như vậy. Khi thừa nhận Germongen là “người đàn ông lắm lời và ranh mãnh”, tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký lập tức nói thêm: “…”23

Tính cách của Ivan Zarutsky trong Thời ký cũng được dệt nên từ các phẩm chất đối nghịch: “….”24. Tính cách của Kozma Minin khá là phức tạp: “….” 25

Tiếp theo tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký, những tác giả khác của các bộ sử ký nửa đầu thl XVII cũng đã nhấn mạnh tính mấu thuẫn, tương phản này của tính cách con người.

Lối khắc họa tính cách trực tuyến theo kiểu biên niên sử trước đây chia theo các đ mục (hoặc những kẻ hoàn toàn ác độc, hoặc những anh hùng đức đ) đã biến mất trong các tác phẩm đầu tk XVII. Tính trực tuyến của những cách khắc họa tính cách những thời trước đã bị vứt bỏ - một cách dứt khoát! Tiếp sau bản biên soạn lần hai Thời ký, kiểu định tính cách mới nổi lên rõ nhất trong tác phẩmNgười đương thờicủa Ivan Timofeev. Cách khắc họa tính cách Lôi Đế của Ivan Timofeev gồm sự tụng ca khoa trương ông ta và sự lên án say sưacơn giận dữ bừng bừngcủa ông ta. Tất cả mọi người đều có tội lỗi: “…”26. Timofeev khắc họa Boris Godunov là người có tính cách đa dạng và rất phức tạp và khẳng định ông có bổn phận nói cả về những việc xấu lần những việc tốt của ông ta: “…”27.

Timofeev dường như coi mình có bổn phận viết về những đức hạnh của Godunov là vì ông viết về cả nhữngmặt xấucủa ông ta: “…”28.

Tính hai mặt, sự kết hợp tương phản các phẩm chất tốt xấu trong sự khắc họa tính cách được Timofeev coi là dấu hiệu cho thấy sự không thiên vị của họ: “…”29, 30.

Xác định tính cách chỉ thuần tốt hay thuần xấu sẽ làm lộ rasự không thậtcủa nhà văn, sự thiếu khách quan của hắn.

Ivan Timofeev không thể quyết được là cán cân sẽ nghiêng về bên nào sau cái chết của Boris: “Vào giờ chết của ông ta, không ai biết chắc được đất nước sẽ đánh giá sự nghiệp của ông ta theo hướng nào: tốt đẹp hay độc ác” (31)

Cũng như tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký, Ivan Timofeev không xem nguyên lý cái ác và cái thiện trong tính cách con người như là cái vĩnh hằng và bất biến. Lần đầu tiên trong văn học Nga đầu thế kỷ XVII đã xuất hiện ý muốn soi tìm nguyên nhân việc xuất hiện những phẩm chất này khác trong tính cách của nhân vật lịch sử, xem xét ảnh hưởng của người này đến người kia. Tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký đã nêu lên ảnh hưởng tốt đẹp của Anatasia Romanova đến Lôi Đế và với sự biến mất ảnh hưởng này, sau cái chết của Anatasia, tính cách của Lôi Đế đã thay đổi. Ivan Timofeev coi tác động tốt của sa hoàng Fedor Ioannovich đến Boris là một trong những yếu tố đức hạnh trong tính cách của ông ta: “…”32.

Như vậy lần đầu tiên trong văn học Nga viết về các nhà hoạt động lịch sử đã nêu lên vấn đ về các yếu tố làm xuất hiện những đặc điểm này hay khác trong tính cách con người. Bản chất phi thời gian và tuyệt đối của tính cách con người như được thể hiện thời trung đại đã bị lung lay. Tác giả không còn bị bối rối trước tính biến đổi của các tính cách, cũng như không bị lúng túng trước sự tương phản của chúng. Ivan Timofeev chỉ ra trong tính cách của các nhà hoạt động lịch sử, ngoài thành tốbản chấtcòn có các thành tố: “độc đoán”, tức là tự do lựa chọn người, “thích vinh quang thế giớitức thói háo danhcân nhắc ý kiến mọi người, và cuối cùng, tác động trực tiếp của những người kháctrong trường hợp này là của sa hoàng Fedor.

Những thay đổi của các thành tố này gây nên những biến chuyển trong tính cách con người. Giống như Lôi Đế tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký, Boris Godunov Ivan Timofeev thay đổi tính cách của mình dưới tác động những sự thay đổi của hoàn cảnh bên ngoài. Sự thay đổi này được Ivan Timofeev thể hiện một cách đẹp đ: “…” 33.

Các khắc họa tính cách phức tạp và tương phản của Boris đã vượt lên tất cả các nhà văn viết về thờiHỗn loạnsau 1617. Nó có không chỉ trongNgười đương thời của Ivan Timofeev, mà cả trongNgữ lục ngày tháng của các quốc vương và thánh chủ Moskvacủa Ivan Khvorostinin. đây chúng ta cũng thấy sự kết hợp trong hình tượng Boris những phẩm chất trái ngược: “…” 34.

Lối định tính cách tương phản của Boris cũng được đưa ra cho độc giả trongTruyện kểcủa I.M.Katyrev-Rostovsky: “…” 35

Chỉ có “Truyền thoại kháclà xa lạ với kiểu khắc họa tính cách Boris này, dù nó cũng chịu ảnh hưởng của bản biên soạn lần hai Thời ký, nhưng phần đầu nó phụ thuộc nhiều hơn vàoTruyện về ngai vàng Boris Godunov” (36) và “Truyền thoạicủa Avraami Palitsyn trong bản biên soạn chính trước năm 1617.

Vấn đ tính cách con người như vậy đã nổi lên trước các nhà văn viết về lịch sử nửa đầu tk XVII với tất cả tính chất phức tạp chỉ có thể đặt ra vào thời ấy. Việc nêu ra vấn đ này đã kéo theo sự xem xét lại nhiều cơ sở đánh giá từ thời trung đại đối với các hiện tượng lịch sử, các quan điểm lịch sử nói chung. Bản thân cái ác và cái thiện áp dụng cho tính cách con người cũng là tương đối. Tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký đã nói thẳng ra tư tưởng này khi giải thích rằng từ ác có thể chuyển qua thiện và từ thiện có thể thành ác: “…” 37

Đáng chú ý là các tính cách của các nhân vật lịch sử được thể hiện trong các tác phẩm viết về thờihỗn loạnkhông phải một cách biệt lập. Chúng được khám phá gắn với những tin đồn, chuyện kể về họ. Trong biên niên sử không có sự chuyển tải các quan điểm về các biến cố không phù hợp với quan điểm của tác giả, không có sự khắc họa tính cách không phải của tác giả đưa ra. Trong khi tác giả của các tác phẩm lịch sử về thờiHỗn loạnthường xuyên dẫn ra những tin đồn, câu chuyện khác nhau vì hiểu rõ ý nghĩa củadư luận xã hội”.

Tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký đã dẫn các chuyện kể về sự lưu đày của Nagikh đến Uglich (38), về vụ Boris giết sa hoàng Dmitri (39), về sự xếp đặt Filaret Nikitich (40).

Tính cách các nhân vật lịch sử được thể hiện trên nền những câu chuyện dân gian về họ. Chẳng hạn, Samozvanets được xác định như sau: “…”41. Đánh giá của nhân dân về con trai của BorisFedor Borisovich cũng được ghi lại: “…”42.

Tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký không ngại dẫn ra những ý kiến trái ngược hẳn ý kiến của mình. Ông thu thập mọi ý kiếnủng hộvà “phản đối”, phân tích chúng một cách nghiêm túc. Thí dụ, trong Thời ký có dẫn lại đầy đ lời lẽ của những người bệnh vực tên kẻ trộm Tushinsky nói về Vasili Shuisky nhân vật mà tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký nói chúng là lý tưởng hóa: “…” 43. Đối lại ý kiến này lại có một ý kiến khác: “…”44.

Cách cảm nhận tính cách của nhân vật lịch sử thông qua những tin đồn thổi, đôi khi là đơm đặt cũng gặp thấy trong cảNgười đường thờicủa Ivan Timofeev, “Ngữ lục ngày thángcủa Ivan Khvorostinin.

Timofeev cái chết của Lôi Đế được vây quanh bằng những tin đồn dân gian: “…”45

Khvorostinin tính cách của Germogen được khắc họa gắn với những lời đồn thổi dân gian: “…”46

Như vậy, tính cách của các nhân vật lịch sử không phải bất biến, chúng có thể thay đổi do tác động của những người khác hoặc do hoàn cảnh thay đổi. Trong chúng có thể kết hợp cả những phẩm chất tốt xấu. Con người vốn không tốt hoàn toàn, cũng không xấu hoàn toàn. Không có người nào là không có tội lỗi. Tính mâu thuẫn, trái ngược trong cách các tác giả khắc họa tính cách các nhân vật lịch sử dường như là sự xác thực cho tính khách quan của sự phản ánh, bởi vì con người trong hình dung của nửa đầu tk XVII chỉ là thế. Tính cách con người được khúc xạ qua những lời đồn đại về nó. Nhân vật lịch sử được đánh giá viễn cảnh lịch sử, quachức năng xã hộicủa nó.

Quan niệm mới này về tính cách con người biểu lộ đầy đ chi tiết trong sự cảm nhận các nhân vật lịch sử.

Những đức hạnh cũ thời trung đại bị mất đi ý nghĩa tích cực của mình. Những đức hạnh hiển nhiên hóa ra là tương đối. Những đức hạnh nằm trong tính cách của những nhân vật lịch sử có vai trò tiêu cực trong lịch sử Nga hóa ra chỉ là gây hại. Về Dmitri Samozvanets tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký nói: “…”47. Vẻ ngoài của con người không còn tương ứng với tính cách của nó như trước đây. Chẳng hạn Ivan Timifeev mô tả vẻ ngoài của những người đương thời trung thành nhẹ dạ với Samozvanets như sau: “…”48. Thay vào đó, hành vi, hoatjd oộngcuủahoọ ngày càng có ý nghĩa nhiều hơn trong sự phác họa tính cách các nhân vật lịch sử. Điều này thấy rõ trong các trường hợp khi sự so sánh, hình ảnh áp dụng cho con người là đ ngụ ý hành động của nó, chứ không phải ngụ ý bản chất bên trong của nó là cái như chúng ta đã thấy là trong chừng mực nào đó được coi là khó nhận biết được. Tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký vị tất đã coi đại giáo chủ Germogen là giống như chim và do đó viết rằng “…”49.

Do cách áp dụng cho các nhân vật lịch sử những so sánh hình ảnh khác nhau về chức năng, về hành động, chứ không phải về bản chất của họ như vậy nên các tác giả thường dùng đến những sự so sánh có vẻ như không hoàn toàn thích hợp với họ, xét the quan điểm của hệ thống mỹ học thời mới: nhân vật lịch sử có thể giống như dòng sông, bão táp, tia chớp, núi non, thiên đường, hàng rào; nó có thể được so với những con thú dữ khác nhau có vẻ ngoài ít giống con người. Tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký so sánh Boris Godunov vớibiển cả”, vớihồ” 50; gọi Dmitri Samovanets là “cơn bão mang luồng gió độc” 51, tên kẻ cắp Tushinsky là “con chó dữ hay là con thú hại người…”52.

Tất cả những sự so sánh khó tương thích với ý thức thẩm mỹ của chúng ta đó là do con người được xác định tính cách theochức năng”, theohành độngcủa mình. Về điều này tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký đã có lần nói thẳng ra khi khắc họa tính cách tên kẻ cắp Tushinsky: “…” 55.

Nhìn ngoài thì cách khắc họa tính cách con người này vẫn còn gần với hệ thống trung đại, với hệ thống của Thời ký bản 1512 (56) – những hình tượng rất cũ xưa, nhưng chức năng của chúng đã mới hơn nhiều, bởi vì chính cách nhìn tính cách con người, cách cảm nhận cá nhân con người, cách đánh giá nó đã là mới. Cả ba cái đó đã phức tạp hơn rất nhiều so với trước đây và đồng thời mang tính hiện thực, gần với thực tế hơn.

Vậy đâu là gốc rễ của những quan điểm mới về cá nhân con người đã tìm thấy chỗ cho mình trong các tác phẩm văn học đầu tk XVII?

Thái đ mới về tính cách con người này là phản ánh sự tích lũy chung kinh nghiệm xã hội và sự rời bỏ quan điểm thần học về con người bắt đầu từ tk XVI và phát triển mạnh tk XVII.

Thời kỳ của cuộc chiến tranh nông dân và cuộc can thiệp Ba LanThụy Điển đã thúc đẩy sự tích lũy to lớn kinh nghiệm đấu tranh xã hội trong tất cả các tầng lớp xã hội. Chính vào thời này quan điểm thần học về lịch sử loài người, về chính quyền nhà nước và về chính con người đã bị đẩy ra khỏi thực tiễn chính trị, tuy vẫn còn trong phạm vị những tuyên bố chính thức.

Đ hình dung một cách cụ thể ảnh hưởng của kinh nghiệm xã hội mới đến văn học, ta hãy xem xét một vài sự kiện. trên chúng ta đã thấy văn học phán xét trước tiên là tính cách của các vị quân chủ. Điều đó hoàn toàn không phải ngẫu nhiên. đây là một thực tế mới của việc đạt vương quốcxuống đất”.  Nếu như vào tk XVI Lôi Đế trong các chiếu dụ của mình cho Kurbsky đã phủ nhận quyền của các thần dân phán xét về các hành động của quốc vương mình, khẳng định tính chất thiên tử của quyền lực quân chủ, thì chẳng bao lâu sau cái chết của ông tình hình đã thay đổi mạnh: năm 1598 lần đầu tiên diễn ra cuộc bầu cử quốc vương Ngatrên trần thế”. Quan điểm thần học về nguồn gốc của quyền lực sa hoàng và tư tưởng cho rằng nền quân chủ không chịu sự phán xét của con người lần đầu tiên gây nên những sự hoài nghi nghiêm trọng.

Bản tài liệu phê chuẩn của Boris Godunov năm 1598 dù bề ngoài vẫn dựa trên tư tưởng về nguồn gốc thần thánh của quyền lực sa hoàng, nhưng thực tế đã giải thích sự cần thiết của quyền lực nhà vua bằng những nguyên nhântrần thế”. Quốc vương cần thiết là đ cho phúc lợi của các thần dân và điều này đã được chính Godunov tuyên bố trong thời gian đăng quang của mình bằng một cử chỉ biểu cảm: ông cầm lấy cổ áo của mình giật giật và hứa trong trường hợp cần thiết sẽ chia sẻ chiếc áo này với tất cả mọi người vì lợi ích của các thần dân.

Bầu không khí sục sôi trước bầu cử hiển nhiên đã đốt nóng những cuộc tranh luận về các phẩm chất cần có của ứng cử viên ngai vàng. Tính cách của vị vua tương lai được thảo luận tại hội đồng thị chính, trong nhà thờ, giữa các dân binh, trong đám đông người tụ tập bên tường tu viện Novodevichi, nơi dân chúng bị cảnh sát trưởng xua đuổi, “cầu khẩnGodunov lên ngôi.

Bản tài liệu mà chúng ta vừa nhắc được phê chuẩn năm 1598, một trong những chứng cứ có lợi cho việc bầu Godunov lên ngôi, đã đưa ra những đặc điểm cá nhân trong tính cách của ông: sự sáng suốt trong điều hành quốc gia, đức hạnh của ông và sự quan tâm của ông đếncấp bậc quân đội”. Những đặc điểm của thái đ mới đối với quyền lực của nhà vua chúng ta cũng có thể tìm thấy cả trong ghi chép của Vasili Shuisky, trong các tài liệu của đại giáo chủ Germogen, trong bản án tháng 6/1611, trong tài liệu được phê chuẩn năm 1613.

Cuộc chiến tranh nông dân đã dần dần tẩy khỏi ý thức dân chúng thái đ cũ đối với nhà vua như đối với người đứng đầu quốc gia theo kiểu thừa kế, ý trời và không chịu sự phán xét của con người. Sự phán xét của con người đã được thực hiện đối với Godunov, Vasili Shuisky, và nhiều kẻ tự xưng. Sự phán xét đó đầu tiên là sự phán xét của dư luận nhân dân, sau đó là sự phán xét của hành động. Tính cách của các bậc quân vương được đem ra thảo luận giữa những ngườitrẻ tuổi”, “nhỏ bé”, “bình thường mức đ có lẽ không kém trong giới điền chủ và quý tộc.

Tiếp sau các bậc quân vương, cuộc bàn luận những phẩm chất cá nhân lan đến tất cả những người lãnh đạo các công việc quân sự và “thế tục”. Bản án tháng 6/1611 phản ánh rõ rệt tư tưởng cho rằng những người đứng đầu phải là những người có năng lực, chứ không chỉ là điền chủ và bá tước. Lịch sử đã đưa ra một mẫu mực cụ thể cho việc này – “ông chủ chăn nuôiKuzma Minin.

Những đặc điểm của tính cách con người, như vậy, đã trở thành đối tượng bàn luận tập thể. Trong một số trường hợp vấn đ về chúng đã mang ý nghĩa quốc gia. Đấy là lý do vì sao trong văn học ý kiến dân chúng đã bắt đầu được nhắc đến thường xuyên như vậy.

Quan tâm ít nhất đến tiêu chí mới này đ bầu lên vị quốc vương hay nhà lãnh đạo quân sự bằngsự thống nhất của toàn dânlà giới phong kiến. Vì vậy các nhà văn phong kiến đầu tk XVII như Avraami Palitsyn, Katyrev-Rostovsky và một số người khác ít chú ý đến tính cách của các nhà cầm quyền Nga. Ngược lại, các nhà văn tố cáo phong kiến như Timofeev, tác giả bản biên soạn lần hai Thời ký và một số người khác lại rất quan tâm đến nó.

Như vậy, vấn đ không phải chỗ các tính cách mạnh mẽ và phức tạp trong lịch sử Nga dường như bắt đầu xuất hiện chỉ từ tk XVI như Karamzin nghĩ, mà chỗ sự phức tạp của tính cách con người đã trở thành đối tượng chú ý đặc biệt của các nhà văn  - những người đương thời đầu tk XVII. Những tính cách mạnh mẽ và phức tạp đã có trong lịch sử Nga thường xuyên, nhưng chỉ từ đầu tk XVII trước các nhà văn viết lịch sử mới đặt ra nhiệm vụ đặc biệt là ghi nhận và mô tả chúng. Nhiệm vụ này được đặt ra trước văn học bởi chính đời sống chính trị và đồng thời nó đáp ứng những nhu cầu phát triển bên trong của chính văn học. Có nhiều cái trong văn học tk XVII về thủ pháp khắc họa tính cách các nhân vật lịch sử là gốc văn học hạnh thánh, Thời ký, nhưng nhiều cái đã được nhìn theo cách khác. Ngay hình thức vẫn là cũ, nhưng con mắt nhìn cái cũ đã sắc sảo và tinh tường hơn. Nhưng điều quan trong nhất trong văn học đầu tk XVII – đó là ý thức đưa vào những nguyên tắc mới của việc khắc họa tính cách các nhân vật lịch sử. Các tác giả tk XVII không chỉ mô tả theo cách mới tính cách các nhân vật lịch sử, mà còn đưa ra những bàn luận mang tính nguyên tắc về việc họ cần phải thế nào.

Không lâu nữa sẽ đến thời khi chính các thủ pháp phản ánh tính cách con người thay đổi, được đưa vào hệ thống văn học mới.

Như vậy sự thay đổi thái độ của các tác giả tk XVI-XVII đối với tính cách con người có thể biểu hiện theo trình tự như sau: thoạt đầu là sự tăng cường chú ý đến tâm lý các nhân vật lịch sử, sự tăng cường này được đánh dấu bằng sự tăng lên về số lượng và khối lượng các đặc điểm tính cách trong các tác phẩm tk XVI; sau đó các tác giả của các tác phẩm lịch sử đầu tk XVII bắt đầu phản ánh theo cách mới tính cách của các nhân vật lịch sử, nhận thấy ở đó nhiều cái mà những người trước họ không thấy, và đồng thời bắt đầu nêu lên những nhận định mới về các tính cách con người, nêu lên tính chất phức tạp của chúng. Mỗi một giai đoạn mới trong quá trình “bóc trần” tính cách này đều trực tiếp do thực tế lịch sử gây nên.

Lẽ dĩ nhiên là văn học Nga đã phải trải qua một chặng đường rất dài trước khi đạt đến trình độ phản ánh tính cách phức tạp của con người khiến cho văn học Nga tk XIX nổi bật lên. Con đường phát triển của văn học Nga trong việc phản ánh con người từ đầu tk XVII đến tk XIX cũng phức tạp như từ tk XI đến tk XVII. Đầu tk XVII hiện ra trước chúng ta chỉ là những dấu hiệu báo trước đầu tiên của một thời đại văn học mới.

Bước ngoặt đầu tk XVII cho thấy rằng trong sự phản ánh con người không có sự ngưng trệ. Việc phản ánh con người đã có những thay đổi mạnh. Nhưng toàn bộ văn học Nga cổ, bắt đầu từ tk XII, đầy những thay đổi này. Mỗi thời đại, mà đôi khi là mỗi thể loại riêng biệt, đều khai triển những phong cách của mình trong việc phản ánh con người.

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét