CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC NGA CỔ
D.
LIKHACHEV
Phạm
Xuân Nguyên dịch
MỤC
LỤC
Những nhận xét dẫn luận
Chương
một.
Vấn đề tính cách trong các tác phẩm lịch sử đầu thế kỷ XVII
Chương
hai.
Phong cách của chủ nghĩa lịch sử hoành tráng thế kỷ XI – XIII
Chương
ba.
Những đặc điểm của phong cách sử thi trong văn học thế kỷ XI – XIII
Chương
bốn.
Phong cách biểu cảm – cảm xúc cuối thế kỷ XIV – XV
Chương
năm.
“Tính chất hòa dịu tâm lý” thế kỷ XV
Chương
sáu.
Lối viết tiểu sử lý tưởng hóa thế kỷ XVI
Chương
bảy.
Sự khủng hoảng của cách lý tưởng hóa con người thời trung đại trong thể loại hạnh
thánh.
Chương
tám.
Từ tên tuổi lịch sử của nhân vật văn học đến tên tuổi hư cấu
Chương
chín.
Những sự khác biệt thể loại trong việc phản ánh con người
Chương
mười.
Những khám phá về giá trị cá nhân con người trong văn học dân chủ thế kỷ XVII
Chương
mười một. “Phong cách baroco” nửa sau thế kỷ XVII
Những nhận xét kết luận
Bảng chỉ tên
Bảng chỉ tác phẩm
Bảng chỉ đối tượng - đề
tài
Những khác biệt thể loại trong sự phản ánh con người
Ở trên đã nói rằng những phong cách khác nhau trong sự phản ánh con người được thể hiện với cường độ khác nhau trong các thể loại riêng rẽ. Phong cách hoành tráng tk XI-XIII nổi rõ ở biên niên sử, còn phong cách cảm xúc-biểu hiện thì ở thời ký và hạnh thánh.
Bây giờ cần dừng lại ở một điểm khác: những khác biệt trong sự phản ánh con người gắn với những nhiệm vụ văn học khác nhau đặt ra trong các thể loại riêng biệt. Muốn thế trước hết cần nêu ra một vài nhận xét về chính tính chất của các thể loại văn học ở nước Nga cổ.
Những khác biệt thể loại trong văn học Nga cổ quan trọng và bền vững hơn nhiều so với trong văn học mới. Thể loại trong văn học Nga cổ - đó không chỉ là hiện tượng mang tính văn học, mà còn là hiện tượng mang tính ngoài văn học. Vấn đề về thể loại trở nên phức tạp hơn do thực tế sử dụng các tác phẩm văn học trong đời sống chính trị của giáo hội và trong đời thường.
Truyện kể cuộc đời vị thánh (hạnh thánh) có không chỉ chức năng văn học, nó còn được dùng trong nhà thờ, lưu hành trong tu viện, vì thế là không thể thay đổi. Bên trong thể loại hạnh thánh có các biến thể thể loại. Tất cả chúng cũng hoàn toàn xác định và do gắn với việc dùng trong nhà thờ nên cũng là bất biến.
Biên niên sử cũng là một hiện tượng không chỉ có tính văn học nghệ thuật. Biên niên sử - đó là tài liệu lịch sử và pháp lý. Nó cũng được dùng ngoài văn học vào các công việc xã hội và chính trị. Cũng có thể nói như vậy về các thể loại như chiếu chỉ, giáo huấn, đàm thoại, “hành trình”, v.v. Từ đó thấy rõ rằng văn học thông qua các phân nhánh thể loại của mình đã đi vào tận chiều sâu của cuộc sống xã hội, nghề nghiệp, nhà thờ. Mỗi thể loại có phạm vi phổ biến riêng của mình và đôi khi ít gắn với các thể loại khác.
Những hiện tượng mới trong lĩnh vực phong cách vì thế bao trùm không phải tất cả văn học ngay lập tức, mà lúc ban đầu chỉ bao trùm những thể loại riêng biệt. Nếu như các tư tưởng xã hội hiện ra trong toàn bộ văn học một cách đồng thời, thì sự thay đổi phong cách bộc lộ chủ yếu bên trong các thể loại riêng biệt. Chẳng hạn, ảnh hưởng lần hai của Nam Tư trong cấu trúc phong cách của các tác phẩm văn học tk XIV-XV hiện ra chủ yếu trong văn học hạnh thánh và ở mức độ ít hơn nhiều trong biên niên sử.
Đấy là lý do vì sao trong văn học Nga cổ chúng ta có thể nói về phong cách hạnh thánh, phong cách thời ký, phong cách biên niên, v.v., trong khi đối với văn học tk XIX nói “phong cách kịch”, “phong cách tiểu thuyết”, “phong cách truyện vừa” là điều vô nghĩa.
Sự vận động lên trước của văn học thường xuyên bị giao cắt bởi những khác biệt bên trong thể loại và bởi sự thay đổi của văn bản thư tịch bên trong thể loại.
Văn bản của mỗi thư tịch riêng rẽ thời Nga cổ rất không bền vững và thường xuyên bị thay đổi trong quá trình sao chép. Trong những sự thay đổi này của văn bản thư tịch, ngoài những sự thay đổi của nó gắn với sự phát triển chung của các thị hiếu và quan điểm văn học, có thể quan sát thấy cùng một quá trình của sự thay thế những hiện tượng ngoài văn học bằng những hiện tượng văn học, những hiện tượng “phi sách vở” bằng những hiện tượng sách vở, sự tăng lên các dấu hiệu thể loại vững chắc, và quá trình phát triển dần dần này của “tính văn học” đến mức độ nào đó đã xóa đi sự khác biệt của các thời đại, đưa vào số phận văn bản của mỗi tác phẩm riêng lẻ những thay đổi theo cùng một hướng, làm lệch viễn cảnh phát triển chung của văn học. Đây là một hiện tượng phức tạp và rất tiêu biểu đối với văn học Nga cổ. Chúng ta dừng lại nó kỹ hơn.
Văn học nghệ thuật của nước Nga cổ phát triển trên nền các hiện tượng phi văn học, trên nền lối văn thư hành chính, đồng thời văn học khi thì xích gần với lối văn thư hành chính và đời sống, khi thì rời xa nó.
Một loạt công trình gần đây đã nhấn mạnh sự làm giàu cho văn học từ lối văn thư hành chính, sự xuất hiện những thể loại mới trong văn học do tác động của các hình thức công văn giấy tờ, của các tác phẩm phi văn học (như các tài liệu của nhà thờ, các đơn thư, các danh mục thống kê, các chiếu chỉ đủ loại, thậm chí cả sách học vần, sách chữa bệnh, sổ sách bán hàng) 1. Nhưng có một điều khác cũng được chú ý: cùng với quá trình liên kết văn học và văn thư hành chính còn diễn ra quá trình phân hóa thường xuyên – một quá trình cũng làm giàu cho văn học không kém. Văn học không chỉ xích gần với các hình thức văn thư hành chính và đời sống, mà còn tách xa chúng, muốn vươn lên trên mọi sự thường ngày, hướng đến sự bay bổng văn chương, và điều đó cũng tăng thêm sự giàu có của các hình thức, sự giàu có của ngôn ngữ, sự giàu có của các hình tượng. Sự xích gần và cách xa trái ngược nhau, nhưng cả hai đều có lợi cho văn học. Sự kết hợp thường xuyên của các hiện tượng văn học và phi văn học đã tăng cường sự sáng tạo văn học, đẩy nhanh sự phát triển, làm dễ dàng cho việc tạo ra những hình thức văn học mới khi thì thoát ra khỏi các hiện tượng phi văn học, khi thì hướng đến chúng.
Đặc biệt thú vị khi theo dõi cuộc đấu tranh của hai xu hướng (phân hóa và liên kết với văn thư hành chính) trong giới hạn lịch sử văn bản của một tác phẩm.
Những hiện tượng tiêu biểu có thể nêu lên trong loại văn học hạnh thánh. Thể loại hạnh thánh, như vừa nói, hoàn toàn không thuần nhất. Một dạng đặc biệt của văn học hạnh thánh là các ghi chép tư liệu tạo thành ký ức về vị thánh – những “tư liệu” để viết tiểu sử của ngài. Những ghi chép này không nhằm đạt tới tính văn học. Chức năng cơ bản của chúng là bảo tồn những chứng cứ về vị thánh, những sự kiện cuộc đời ngài, những phép màu sau khi chết của ngài. Về sau những ghi chép này được chỉnh lý, trở thành có tính văn học nhiều hơn – “được tưới bón” và được thêm phần từ chương.
Chẳng hạn, ghi chép của Innokentii về tám ngày cuối cùng trong cuộc đời của Pafnuti Borovsky 2, hay hạnh thánh của Kassian Bosogy 3, hay bản biên tập ban đầu hạnh thánh của Zosima Solovetsky 4.
Ghi chép của Innokentii về cái chết của Pafnuti Borovsky là sự “thần kỳ” văn học độc đáo của tk XV. Innokentii viết nó vào năm 1477 hoặc 1478. Ông muốn đạt đến sự chân thực đầy đủ nên đã cố gắng hết mức ghi chép mọi điều biết được về Pafnuti, truyền đạt chính xác các lời lẽ của ngài. Kết quả là cuốn sách không chỉ cho biết tất cả các quan hệ của Pafnuti bên trong tu viện, mà đôi khi cả các quan hệ của ngài với những người ở ngoài tu viện, mà còn phác họa rất rõ nét chính tính cách của Pafnuti. Do đó trong ghi chép này đã có những hiện tượng mang tính văn học mà về sau sẽ đàng hoàng bước vào văn học. Trước chúng ta dường như là một loại chủ nghĩa tự nhiên tự phát, vô thức thời trung đại. Sớm hơn tính cách con người được mở ra trong văn học, ở đây chúng ta thấy hiện ra cá tính được khắc họa hoàn toàn rõ nét: một con người ý chí, rất quả quyết, có quyền lực và mạnh mẽ khác thường, hay nổi nóng và ương ngạnh như người già.
Ghi chép của Innokentii được viết với sự chân thực kỳ lạ đối với thời mình. Chính Innokentii đã viết: “…”. Có lẽ, những câu chuyện trực tiếp và không kiểu cách của những người làm chứng ở mọi thời đều có đặc điểm là tính chân thực, không nên coi chúng là quan điểm văn học đặc biệt của những người chứng đó, là một phong cách đặc biệt hay một khuynh hướng văn học. Đó không phải là tính chất hiện thực chủ nghĩa của văn học, mà là tính chất hiện thực của chính đời sống dường như được mang vào văn học, đó là thứ chủ nghĩa tự nhiên tự phát của tài liệu, của sự ghi chép chính xác cái xảy ra.
Trong tk XV những ghi chép này, cũng như chính các sự kiện, đã được chỉnh lý thành các sơ đồ khác xa chủ nghĩa hiện thực. Ghi chép của Innokentii đã được Vassian chỉnh lý thành hạnh thánh của Pafnuti.
Cũng có thể thấy điều như vậy trên số phận bản hạnh thánh của Zosima. Bản biên tập đầu hạnh thánh Zosima chính là một dạng ghi chép – những ghi chép tưởng nhớ, những hồi ức, được ông già không biết chữ German đọc cho các thầy tư tế ở tu viện Solovetsky ghi lại. Điều này đã được Dosifei nói đến trong lời bạt cho hạnh thánh Zosima (“Về việc viết hạnh thánh”), chính ông đã ghi lại từ German những thông tin về Zosima, sau đó theo lệnh của tổng giám mục vùng Novgorod là Gennadi viết lại lần hai hạnh thánh của Zosima. Bản hạnh thánh thứ hai này, nó được viết cũng bằng những “ngữ lục” không màu mè, đã được Dosifei chuyển đến tu viện Ferapontov cho cựu tổng giám mục Spiridon và người này đã “nhuận sắc” nó. Đáng chú ý là về sau Maksim Grek đã coi bản chỉnh lý hạnh thánh Zosima này là còn ít tính văn học.
Như vậy, những bản biên tập hạnh thánh không theo kiểu văn sách, những ghi chép về chúng của các người chứng, được thay bằng những bản biên tập hạnh thánh theo phong cách văn sách. Những trường hợp đáng tin cậy của quá trình ngược lại thì tôi không được biết.
V.O.Klyuchevsky đã cảnh báo về cách hiểu quá thẳng băng về sự vận động tiệm tiến của tác phẩm hạnh thánh đến tính văn học. Ông chỉ ra, chẳng hạn, nhà viết tiểu sử của Varlaam Vazhsky đã bắt tay viết hạnh thánh của ngài, khi ở tu viện và cư dân trong vùng người ta coi ngài “là người thường, chứ không phải vị thánh” 5. V.O.Klyuchevsky cũng chỉ ra những trường hợp khác, khi những bản biên tập hạnh thánh đầu tiên có tính sách vở cao, nhưng ông không dẫn ra được những thí dụ thuyết phục, những sự cải biên có ý thức các hạnh thánh “có tô điểm” thành các hạnh thánh “không tô điểm” 6.
Trong lịch sử văn bản của rất nhiều tác phẩm văn học tk XI-XVI chúng ta có thể nhận thấy sự vận động từ những hình thức ban đầu phi văn học đến những hình thức văn học, từ “lời nói thường” và truyện kể dân gian trực tiếp đến sự “nhuận sắc”, sự tăng cường các dấu hiệu thể loại, sự phát triển “tính văn học” của cách trình bày. Điều này cũng diễn ra với cả truyện phong tục. Những văn bản truyện ban đầu, cổ xưa, có tính “folklore hơn”, đơn giản hơn, gần cuộc sống hơn những truyện về sau. Những thay đổi này trong lịch sử văn bản của các tác phẩm thường được coi là cuộc đấu tranh của các phong cách khác nhau, mặc dù không có những cơ sở nghiêm túc để nói thế.
Những bản biên tập đầu tiên của các tác phẩm thường là ít tính văn học, ít tính “sách vở” hơn những bản lần sau. Lịch sử văn bản của các tác phẩm riêng lẻ cho thấy rằng tác phẩm trong sự vận động văn bản của mình đã tăng thêm tính văn học. Và tuyệt nhiên không nên coi sự tăng cường tính văn học này là sự thay thế của các thị hiếu, sự đấu tranh của các khuynh hướng trong văn học.
Cũng không nên thấy cuộc đấu tranh này ở cả trong những nhận xét bút chiến của Kurbsky về văn phong thô kệch của Lôi Đế. Kurbsky vì muốn trách cứ Lôi Đế nên đã phóng đại việc ông không biết viết một cách văn hoa, chứ không phải tranh luận với ông vì các quan điểm văn học. Và cần chú ý rằng Grozny không bảo vệ các quan điểm của mình, như về sau Avvakum đã bảo vệ lối “khẩu ngữ bình dân” của mình. Đơn giản là vì Grozny không có các quan điểm văn học rõ ràng.
Cần chú ý rằng trong quá trình phát triển của văn học, đặc biệt đến tk XVI và XVII, không chỉ những tác phẩm “phi văn sách”, như đã nói trên”, trở thành “văn sách” (tức là có tính văn học), mà bản thân khối lượng các thể loại “văn sách” cũng tăng lên nhiều. Xuất hiện những cuốn sách chững chạc, những “sử ký”. Các truyện lịch sử mà trước tk XVII mang tính chất “phi chính quy” đã có tất cả những dấu hiệu của một thể loại xác định. Truyện phong tục – lịch sử mà trước tk XVII cũng chưa có những dấu hiệu thể loại rõ nét và thường ở những bản biên tập về sau chuyển thành hạnh thánh thì ở tk XVII đã có những dấu hiệu của một thể loại riêng, cố định. “Tính văn học” thấm vào biên niên sử ngày càng mạnh (nhất là bắt đầu từ giữa tk XVI, khi ảnh hưởng của thể loại thời ký đậm lên). Vào tk XVII xuất hiện một loạt lĩnh vực văn học mới: thơ trường dòng và kịch.
Trong hoàn cảnh đó ngay cả tương quan của các hiện tượng văn học và phi văn học cũng thay đổi. Nếu trước đây những tác phẩm thành văn mang tính phi văn học, “phi sách vở” chỉ là cơ sở, “điểm xuất phát” cho nhiều tác phẩm văn học, chứ không tìm cách thay thế văn học, thì bây giờ, vào tk XVII, một loạt các hiện tượng phi văn học lại có tham vọng trở thành văn học. Loại “khẩu ngữ bình dân”, các hình thức văn viết “công vụ” khác nhau bắt đầu được cảm nhận như là những phong cách văn học đặc biệt. Chẳng hạn các hạnh thánh “phi sách vở” – những ghi chép sơ bộ về vị thánh, không có ý thể hiện hình thức trọn vẹn của thể loại hạnh thánh, bây giờ, vào tk XVII, tuyên bố quyền trở thành “văn học lớn”. “Hạnh thánh” của Avvakum, cũng như các tác phẩm khác của ông, - đấy là văn học, trong đó tính chất “phi sách vở” của tác phẩm được xem như một phong cách văn học đặc thù.
Quả thực, Avvacum coi mình là người bảo vệ bản sắc dân tộc và ông thấy bản sắc dân tộc này trong văn học không phải ở tính “sách vở” của phong cách, mà ở lối “khẩu ngữ bình dân”. “Đừng tìm kiếm, ông nói – từ chương, triết học và sự hùng hồn, mà hãy sống, hãy tuân theo động từ lành mạnh, có thật. Nếu không nhà từ chương và nhà triết học không thể là người Thiên Chúa giáo”. Ý kiến táo bạo chưa từng có này của Avvacum trái ngược với toàn bộ thực tế văn học có trước ông. Ở đấy “từ chương”, “hùng biện”, “hoa mỹ” đã là lý tưởng bất biến của mọi nhà văn giáo hội. Tất cả các tác phẩm văn học được chỉnh lý chỉ để tiến đến gần lý tưởng về tính văn học này, và chính sự “hoa mỹ” và “bện kết ngôn từ” được coi là sự thể hiện đích đáng của cái thiêng (ở Epifanii Premudry, Pakhomi Serb, Vasili Tuchkov và nhiều người khác).
Hạnh thánh của Avvacum dù giống “ghi chép” nhưng không có tham vọng trở thành chất liệu của “hạnh thánh” mang tính sách vở hơn. Đó là văn học, một tác phẩm hoàn toàn trọn vẹn.
Trong sáng tác của Avvacum chúng ta lần đầu tiên nhìn thấy tác giả có ý thức xem ngôn ngữ phong tục như một thể loại văn học xác định. Đây là khác biệt cơ bản giữa hạnh thánh của Avvacum với các ghi chép hạnh thánh phi sách vở của thời trước đó, đặc biệt là với “ghi chép” của Innokentii về những ngày cuối cùng của Pafnuti Borovsky, hạnh thánh sách vở của Zosima, hạnh thánh sách vở của Mikhail Klopsky, các yếu tố phi văn vẻ trong các chiếu chỉ của Grozny, Iosiv Volotsky. Đây là hiện tượng hết sức quan trọng. Nó chứng tỏ sự phát triển văn học chín muồi, khả năng của văn học đôi khi chú ý có ý thức chứ không phải tự phát đến ngôn ngữ phong tục và hành chính, được làm giàu bởi nó. Như vậy, vào tk XVII, nhiều trong số các hình thức giấy tờ công việc đã được kết tập vào văn học như là những hiện tượng văn học. Ở tk XVII, mà phần nào ở cả tk XVI, việc sử dụng có ý thức thể loại và phong cách của các tài liệu công việc (Những bảng thống kê, thư từ ngoại giao, đơn từ) đã có hiệu lực.
Cũng chính ở tk XVII chúng ta thấy sự quan tâm không phải tự phát mà hoàn toàn tự giác đến folklor, đến các tác phẩm folklore như một phong cách cụ thể.
Giữa tính folklore của các đoạn riêng rẽ trong thư tịch cổ xưa, những đoạn riêng rẽ trong “Truyện về Ryazan đổ nát”, tính folklore làm cơ sở cho “Truyện về Petr và Fevroni” một bên, và tính folklore của “Truyện về Gora Zlochasti”, của các tác phẩm châm biếm mang tinh thần dân chủ của tk XVII hay của các bài ca của Kvashin-Samarin một bên, có sự khác biệt về nguyên tắc. Những tác phẩm sau nhất quán tìm cách (trong phạm vi khả năng của mình) duy trì phong cách folklore, cảm nhận rõ rệt thể loại của các tác phẩm folklore. Biên niên sử, “Truyện về Ryazan đổ nát” và những tác phẩm khác của thời cổ xưa chỉ sử dụng những sự kiện của các tác phẩm folkloe, phong cách của các tác phẩm folklore thấm vào tính sách vở cùng với các sự kiện – hoặc là một cách tự phát, hoặc trong chừng mực nó không mâu thuẫn với các thể loại sách vở.
Trong sự phát triển của các phương pháp phản ánh con người, sự tác động của loại giấy tờ công việc ở tk XVII có ý nghĩa rất lớn. Nó không chỉ xích gần sự phản ánh này với các sự kiện thực tế, giản lược nó, tước đi tính trang nhã văn học, xích gần nó với đời sống xung quanh, mà còn mang lại sự gián cách đặc biệt trong sự phản ánh, giảm bớt tính chủ quan của tác giả vốn rất tiêu biểu cho thời trung đại.
Trong các tác phẩm văn học Nga cổ thời trước luôn luôn và trong mọi sự đều thấy quan điểm của tác giả, luôn luôn đều nghe thấy giọng nói của tác giả diễn giải các sự kiện và hiệng tượng. Ý kiến của tác giả luôn luôn hiện ra, thái độ của hắn đối với cái được phản ánh luôn luôn rõ rệt. Các nhân vật hành động của tác phẩm bị phụ thuộc vào sơ đồ tư tưởng của tác giả; chúng là minh họa cho tư tưởng chung của hắn. Tùy mức độ nhưng tác giả ở tk XI-XVI luôn là người thuyết giáo và sự thuyết giáo nhìn từ góc độ này là thể loại chủ chốt trong suốt mấy thế kỷ. Nhà thuyết giáo được cảm thấy trong tất cả các biến thể của thể loại hạnh thánh (kể cả biên niên sử), trong các tác phẩm kể chuyện hành hương. Từ đây sinh ra những thủ pháp trình bày theo lối diễn thuyết thấm vào toàn bộ văn học các thế kỷ XI-XVI, từ “Bài ca về đạo quân Igorev” đến những bản du ký.
Nhưng sẽ là sai lầm nếu xem hiện tượng này là dấu hiệu về sự phát triển đặc biệt ở tk XI-XVI của nguyên lý tác giả. Bởi tác giả thuyết giảng không phải quan điểm của mình, không phải thái độ riêng của mình đối với cái được phản ánh, mà là quan điểm chung, duy nhất, như hắn cảm nhận.
Các tác giả của các tác phẩm Nga tk XI-XVI không tìm cách thể hiện nguyên lý tác giả mang tính cá nhân, họ không mong muốn khác biệt nhau. Trong phần lớn trường hợp họ đem sự trình bày của mình dập vào một cái khuôn, sử dụng các công thức truyền thống. Quan điểm của họ cơ bản là phụ thuộc vào thần học. Trong thần học mọi thứ được coi là đã được nhận biết. Chính vì vậy tác giả không tìm cách nhận thức thế giới – hắn chính xác là giải thích các hiện tương riêng rẽ theo một quan điểm đã được xác định một lần và mãi mãi. Không nhận thức mà giải thích các hiện tượng và rút ra từ đó các bài học đạo đức – đấy là phương châm văn học cơ bản của nước Nga cổ.
Thời trung đại không biết đến ý nghĩ của người khác, tư tưởng của người khác như đối tượng của sự trình bày khách quan. Những tư tưởng của người khác bị bác bỏ, nhưng chúng không thể được truyền đạt một cách khách quan. Cả những tư tưởng mà người mang chúng cảm thấy dường như là đúng đắn cũng không được trình bày – chúng chỉ được thuyết giảng. Mọi điều đều đã được nhận biết trong thần học, mọi sự đã được khám phá, chân lý đã được tìm ra. Nhiệm vụ của tác giả chỉ là áp dụng chân lý đó cho các trường hợp khác nhau.
Một khi chân lý chỉ là một và đã
được nhận biết thì hiển nhiên các cuộc tranh luận là không cần thiết. Luận chiến, theo nghĩa ta hiểu từ này hiện nay, là không cần thiết – chỉ có thể là “bóc trần” kẻ thù như là kẻ mang ý chí độc ác. Cái mà chúng ta gọi là luận chiến, trong văn học và chính luận Nga cổ tk XI-XVI, mà phần nào muộn hơn về sau, phần lớn mang chính tính chất này. Thực chất, theo quan điểm của các tác giả tk XI-XVI thì không có những tư tưởng sai lầm, không đúng đắn – mà chỉ có ý chí độc ác cần phải bị vạch trần bản chất trước độc giả. Ý thức của người khác, chính kiến của người khác là bị phủ nhận và không được tôn trọng. Ý thức trung đại vì thế hoàn toàn không dung thứ cho không chỉ sự trình bày các tư tưởng, mà cả sự phản ánh con người và thế giới.
Việc tác giả bắt thế giới phụ thuộc vào hệ tư tưởng của mình, sơ đồ của mình, lý tưởng quy phạm của mình đã khiến cho nhân vật của tác phẩm văn học bị mất đi tính độc lập của nó, tính độc lập mà đôi khi đã làm kinh ngạc ngay cả các nhà văn hiện thực chủ nghĩa tk XIX, những người mà đôi khi trong quá trình sáng tạo tác phẩm không biết các nhân vật của mình sẽ vận động tiếp như thế nào 8. Nhưng điều này không có nghĩa là trong văn học quả thực chỉ có một quan điểm duy nhất ngự trị, không có các tranh luận. Bản chất vấn đề chỉ là ở chỗ mỗi quan điểm coi mình là duy nhất chính thống và không thừa nhận quyền tồn tại của quan điểm khác. Và ý thức về sự thiếu vắng quyền tồn tại của quan điểm khác này dựa không phải trên các chứng cứ logic hay kinh nghiệm thực tế, mà hoàn toàn trên niềm tin vào tính chính thống của riêng mình.
Chính vì vậy giọng của tác giả trong các tác phẩm tk XI-XVI không lặng đi ngay cả khi các nhân vật nói. Thực chất, lời trực tiếp của các nhân vật trong các tác phẩm văn học Nga cổ trước tk XVII rất thường là biến thể của lời gián tiếp. Lời của các nhân vật không được tác giả truyền lại mà được hắn tóm tắt. Chúng được đưa vào nhờ giới từ “dường như”, được dùng làm các mệnh đề phụ 9.
Trên đây chúng ta chỉ nói về đường hướng cơ bản, dẫn đạo của cảm hứng thuyết giảng trong văn học Nga cổ tk XI-XVII. Tất nhiên trên thực tế nó có nhiều ngoại lệ. Những ngoại lệ này trong văn học Nga cổ được xác định chủ yếu bằng sự thâm nhập của tài liệu. Những tài liệu được đưa vào biên niên sử, vào các tác phẩm lịch sử, phần nào vào hạnh thánh, đã làm phức tạp hơn sự phản ánh con người (dù chỉ là trong những bản biên tập gốc của hạnh thánh, trong biên niên sử), làm cho sự phản ánh này có sự mâu thuẫn sống động, đem lại những đặc điểm cá nhân cho lời của các nhân vật.
Thí dụ, những biên niên sử cổ vùng Novgorod có tính chất tư liệu rất rõ là những mẫu mực đặc sắc về lời nói sống động và được cá thể hóa 10. Nhưng tính cá thể của lời nói là hệ quả của sự tôn trọng đối với lời người khác như đối với một tài liệu, chứ không phải là một thủ pháp văn học có ý thức.
Cùng với sự phát triển của các thể loại thuần văn học tk XVII và với sự thừa nhận trong văn học cho những thể loại văn thư và phong cách văn thư quyêng hợp pháp tồn tại thì sự đồng âm của các giọng tác giả bị mất. Tác phẩm văn học thôi là sự độc thoại của tác giả. Xuất hiện những tác phẩm kịch mà đặc điểm tiêu biểu của chúng là sự tách biệt hoàn toàn sự phản ánh và cái được phản ánh.
Việc tách sự phản ánh ra khỏi nhà văn, “tính khách quan” của sự phản ánh này đã được chuẩn bị bằng toàn bộ quá trình phát triển của văn học. Trong các tác phẩm văn học đã xuất hiện những con người khôn khéo, mạo hiểm được độc giả thiện cảm (thí dụ như Frol Skobeev, con trai người lái buôn trong “Truyện người lái buôn mua xác chết”), những người “bị sụp đổ” (giống như chàng trai vô danh – nhân vật của “Truyện về Gora Zlochasti”), bán linh hồn cho quỷ (Savva Grudtsyn – trong truyện viết về nó), bị số phận đày ải, không được thừa nhận, phó mặc cho một đam mê nào đó.
Sự xuất hiện của tất cả các nhân vật này sở dĩ có được là do quan điểm của tác giả về chúng đã thôi bộc lộ một cách công khai. Đó là sự giải phóng của tác phẩm văn học
- không hẳn là thoát khỏi tác giả, mà đúng hơn là thoát khỏi quan điểm đầy tính luân lý, thuyết giáo của hắn. Đó là sự thế tục hóa văn học mà trong quá trình đó việc xích gần với lối viết văn thư hành chính là yếu tố hết sức quan trọng đem lại cho nó tính khách quan cần thiết 11.