Xứ Đông Dương thuộc Pháp
Hồi kí Paul Doumer Toàn quyền Đông Dương (1897-1902) Tổng thống Pháp (1931-1932)
Phần
Các mùa và những cơn
bão
Ở
đây cũng như ở Nam kỳ có hai mùa, được gọi là mùa mưa và mùa khô. Chúng ta đang
ở mùa khô; biết điều được điều ấy là tốt, nếu không có lẽ sẽ nhầm lẫn. Nước chảy
khắp nơi ở giữa cơn hạn hán đã được ghi trong lịch. Các mùa ở Bắc kỳ, nếu như
có thật thì trên thực tế có cùng tên như ở Nam kỳ, nhưng lại không giống như
trong đó lắm. Giữa chúng có sự giống nhau, nhưng lại có sự khác nhau nhiều hơn.
Mùa
mưa, hay còn gọi là mùa hè ở Bắc kỳ thì cũng nóng, có thể còn nóng hơn ở Nam kỳ.
Mặc dù mưa cũng nhiều, không khí ở đó hanh khô hơn. Không hiếm những ngày nhiệt
kế chỉ tới 40 độ vào tháng Sáu và tháng Bảy, mà không hề có ngọn gió nào. Cả
ngày lẫn đêm đều rất khó chịu. Chuyện kể rằng ngài Armand Rousseau, để cố gắng
ngủ, đã đến nằm trên boong tàu sà lúp của ông, được neo trên đoạn thoáng đãng
nhất của sông Hồng. Những cơn mưa đổ xuống vùng miền núi và thậm chí ở tận tỉnh
Vân Nam cũng như trong vùng đồng bằng châu thổ khiến cho những con sông rộng ra
trông thấy. Mùa mưa cũng được gọi là mùa nước lớn. Sông Hồng, nằm trước mặt Hà
Nội, dâng cao đến bảy tám mét. Cả vùng bị đe dọa úng lụt sau những cơn giông lớn
kéo dài đặc biệt. Nếu như lượng mưa rớt xuống nhiều đến vậy ở vùng cao và cùng
lúc trong các lưu vực sông khác nhau để mà đồng thời tạo ra nước lũ trên sông Hồng,
sông Đà và sông Lô, ở vùng hạ lưu tích hợp của ba dòng, nước sông dâng lên đáng
sợ so với mức độ bình thường của mùa hè. Đáng mừng là điều ấy hiếm khi xảy ra,
tôi đã không chứng kiến nạn úng lụt nghiêm trọng nào trong suốt năm năm.
Tuy
nhiên hiện tượng khí quyển khủng khiếp mà người ta gọi là typhon[1]
thường xảy ra vào chính mùa mưa. Ở những điểm khác trên toàn cầu, nó có tên
là cyclone[2]
và cũng chẳng hơn gì. Những cơn bão mạnh nhất mà chúng ta đã gặp trong các Quốc
gia ôn đới không sánh được với sức mạnh hủy diệt và thường kéo dài của typhon. Đó là những cơn gió giật liên tục
xô đổ mọi thứ, tiến đi với một vận tốc vượt quá hai trăm ki lô mét một giờ, kéo
theo những trận mưa rào không ngừng, đè nghiến nhấn chìm mọi thứ trong nước, cả
súc vật và con người. Chửng nào mà typhon
còn kéo dài, ta có cảm giác bất lực hoàn toàn. Phải chịu đựng một cách thụ động,
sau đó đi đếm số người thiệt mạng và ghi nhận những tổn hại do bão gây ra. Khi
một typhon đổ bộ xuống một thành phố,
tổn thất rất đáng kể, nhìn rất ấn tượng. Mái tốc nhà đổ, cây cối quằn quại và
bươm tướp; cảnh tượng như một vụ xử tử man dợ, diễn ra khắp nơi, tựa như trong
một cơn điên dại. Ở vùng nông thôn, những tổn thất không phải lúc nào cũng nhìn
thấy ngay được; chúng đôi khi còn kinh hoàng hơn. Thường xuyên là mất mùa, gia
súc chết đuối, người chết rất nhiều. Một trận cuồng bão hết sức dữ dội đã tràn
qua ba tỉnh Trung kỳ vào năm 1897, tàn phá toàn bộ ba tỉnh này và gây ra một nạn
đói ở đó. Một trong ba tỉnh là Đồng Hới. Tỉnh này đã hứng trọn trọng tâm cơn
bão trong lúc mùa vẫn chưa gặt và đã bị mất trắng hoàn toàn, vườn ăn quả bị
tróc rễ đến tận cây cuối cùng, các đàn gia súc bị chết đuối gần hết, hàng ngàn
người chết, đàn ông, đàn bà, trẻ nhỏ. Phải mất nhiều năm để gượng dậy khỏi một
thảm họa như vậy trong phạm vi có thể gượng dậy được. Một trong những trận bão
cuồng lốc đã đổ bộ xuống Bắc kỳ thời tôi ở đó và đánh mạnh nhất vào Hải Phòng.
Ngoài những tổn hại không tránh khỏi gây ra trong thành phố, thì gần như tất cả
những con tàu neo trên cảng đều bị hư hỏng, ngay cả những thuyền sà lúp lớn cũng
bị phá hủy. Một chiến hạm pháo bị gió và nước hẩy tung và hắt cả lên bờ, hôm
sau người ta đã nhìn thấy nó trong bộ dạng
khá thảm hại.
Những
cơn cuồng bão phát triển tột bậc sức mạnh tàn ác của chúng tại các miền duyên hải,
và trên biển thì còn dữ dội hơn nữa. Đất liền, trên thực tế, ngăn cản chúng và
khiến chúng yếu đi khá nhanh. Một trường hợp giống như trận năm 1897 ở Trung kỳ,
lao sâu vào đất liền và duy trì sức mạnh của nó khá lâu, thì đáng mừng là rất
hiếm hoi. Ở Bắc kỳ, những cơn cuồng bão nguy hiểm hoặc vô hại thường xuyên đổ bộ
lên đất Hải Phòng, người ta tính trung bình thì mỗi năm có một cơn bão. Hiếm
khi Hà Nội cảm nhận được sức mạnh dữ dội của chúng, khi đến đây thì chúng đã
luôn giảm nhẹ đi rất nhiều rồi.
Ngoài
khơi, những tàn tích do các trận cuồng bão gây ra thì vượt quá tất cả những gì
ta có thể tưởng tượng, vượt quá mọi tầm đánh giá. Con số những thuyền đánh cá của
dân chài, những tàu buôn nhỏ và lớn bị phá hủy chỉ trong một ngày cùng với tất
cả các phi hành đoàn, là rất đáng kể. Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, An Nam
hàng năm phải trả giá một số mạng người đắt đỏ cho những cơn cuồng bão. Với người
châu Âu, vốn chỉ đi biển trong vùng Cực-Đông với những con tàu to khỏe và luôn
luôn có điện tín thông báo, những mất mát nhiều nhất vẫn là vật chất. Một tàu
thủy hơi nước lớn bị cuốn trong một cơn cuồng bão chắc sẽ có cơ may mười mươi bị
đắm nếu như vị thuyền trưởng bất tài hoặc đơn giản là chả biết gì về chuyện lái
tàu trong những vùng biển Trung Hoa. Vận hành tàu thuần thục và hiểu biết, thì
nên để cho gió và biển đẩy đi hơn là cố gắng kháng cự một cách vô ích và nguy
hiểm, con tàu sẽ có thể thoát nạn dù với những tổn thất trầm trọng, các tầng
thượng của nó sẽ bị phá hủy một phần, thường là bị quét trụi hệt như một cái ụ
nổi. Nếu như con tàu đã cũ hoặc được thiết kế quá nhẹ, thì tốt hơn là chớ rời
khỏi cảng khi một cơn cuồng bão có thể xảy ra trên đường đi của nó. Nếu không
thì chuyện gì cũng có thể xảy ra.
Vào
năm 1900, cuộc phiêu lưu đã xảy đến với một chiến hạm vững chãi nhưng cũ, của Hãng
Thư Tín Hàng Hải, con tàu Eridan. Con
tàu Eridan từ Petchili trở về Đông Dương, đem theo năm sáu trăm binh sỹ. Do
không ghé Hồng Kông, nên phi hành đoàn đã không nhận được thông báo có cơn cuồng
bão sắp đổ bộ mà trạm điện báo đã đưa tin. Nó đang ở phía đông đảo Hải Nam, trên đường đi Sài Gòn
thì cơn bão ập đến. Những chiếc thuyền nhỏ bị vỡ và dứt tung, tất cả các tầng
thượng nhẹ bị hất bay, là chuyện phải trả giá thường xuyên xảy ra cho cơn bão. Eridan không thoát ra dễ dàng đến thế.
Những con sóng dữ dội đập vào chiến hạm mạnh đến nỗi mà dần dần lớp tôn trên vỏ
thuyền biến dạng và bong ra. Nước chui qua các đường đinh tán nối kết chúng với
nhau và ào vào tàu. Ngay khi phát hiện ra, họ cho bật máy bơm nước có trên tàu.
Mặc dù có lưu lượng lớn, nhưng những cỗ máy bơm ấy cũng bất lực. Lượng nước chảy
vào qua các khe hở thành tàu nhiều và nhanh hơn lượng mà máy bơm có thể hút đổ
ra ngoài. Nước tiếp tục dâng lên trong các khoang hầm tàu, tấn công vào các
khoang đốt lò, và với những động tác nháo nhào của con tàu đang trôi trượt,
chao đảo đủ các kiểu, nước bắn tung tóe, làm tắt cả lửa. Những người thợ đốt lò
gắng sức một cách tuyệt vọng. Từ khoang chỉ huy, mà ông ấy cố trụ lại, và bị những
cơn sóng biển tràn lên tưới ướt rượt, viên thuyền trưởng gào lên với các thợ
máy qua loa phóng thanh rằng phải duy trì cho mô tơ tàu vận hành bằng bất kỳ
giá nào.
-
Nước vẫn dâng và bắn vào tận các lò đốt; những thợ lò không thể trụ được nữa, -
kíp trưởng máy đáp lại.
-
Sự tồn tại của con tàu đang là vấn đề sống còn; là cuộc sống của tất cả những
người lính trên tàu và họ đã được trao gửi cho chúng ta; phải trụ vững!
-
Hai lò đã bị tắt rồi... Chỉ còn lại mỗi một lò đang cháy nữa thôi... Vậy là hỏng
hết rồi!
Máy
vẫn quay thêm vài khắc, hút kiệt hơi từ những nồi hơi và dừng lại. Chiến thuyền,
không còn sức, không định hướng, kể từ giờ phút đó nó là món đồ chơi của một đại
dương đang say máu, của một trận cuồng phong mà nếu ở trên bờ, sức mạnh của nó
sẽ khiến cây đại thụ to nhất có thể bật rễ, sẽ hất đổ những bức tường vững chãi
nhất. Tàu Edrian, lúng túng, trơ ì, phó mặc thân phận mình cho sóng gió. Than
ôi, chả được lâu đâu! Chẳng mấy nữa nó chắc sẽ tìm được chỗ trú cho mình dưới
đáy đại dương. Máy bơm hút nước mà mô tơ tàu làm cho vận hành thì giờ đây cũng
đứng im lìm. Nước đã lọt qua thành tàu vào trong thì hiện giờ cứ giữ nguyên thế.
Nước dâng lên và con tàu chìm dần. Ta hẳn có thể tính được nó cần bao nhiêu thời
gian để biến mất hẳn vào trong lòng đại dương.
Hành
khách trên tàu, sỹ quan và binh lính, đã phải đến trú dưới các boong, trong các
ca bin hoặc giữa các khoang, ngay khi cơn cuồng bão quất mạnh. Phía trên, chẳng
gì có thể trụ được nữa, và tất cả mọi liên lạc trao đổi giữa bên trong và bên
ngoài bị khép kín. Ta hình dung con tàu đó đang sống trong tình trạng thế nào,
chiến thuyền rập rềnh dữ dội từ mạn này sang mạn kia và lắc dọc lắc ngang đến mức
toàn bộ máy chân vịt tơ hơ khỏi mặt nước, chường cả bộ sống tàu về phía trước. Những cỗ dạ dày tốt nhất cũng bị
lộn tùng phèo; tất cả những bệnh nhân đều chẳng nhận ra điều gì hết, chẳng quan
tâm đến gì hết. Chỉ có tiếng rên rỉ và nguyền rủa liên tiếp phát ra từ các binh
sỹ được nằm trên sàn gỗ giữa các khoang và, bị đặt nằm ngửa, nên họ chẳng thể nằm
yên tại chỗ được mà bị trượt lăn lóc dưới những động tác dữ dội, náo loạn của
con tàu. Và cùng những từ này luôn lặp đi lặp lại trên các cặp môi.
-
Hãy đắm đi, nếu phải đắm, và đắm cho nhanh đi!
Cái
gì đó kết thúc bất thình lình: đó là sự vận hành, đó là tiếng động của máy, sự
sống của con tàu. Người ta chỉ còn nghe thấy những tiếng rống man dại của gió
hú thành từng đợt, và tiếng va chạm của những ngọn sóng biển đập vào thành tàu
và trên boong. Sức mạnh hủy diệt vẫn tiếp tục nã vào chiến thuyền; sức mạnh
kháng cự của nó, của con tàu thì bất thình lình bị tê liệt, có thể là đã hàng
phục mãi mãi rồi.
-
Có chuyện gì vậy?
-
Chuyện gì xảy ra thế?
-
Chúng ta đã thua thật rồi!
Tất
cả mọi người đều nói, gượng nhỏm dậy bằng tay, bằng đầu gối, cố trụ vững đến mức
có thể, lo lắng, ủ rũ. Các sỹ quan ra khỏi ca bin hỏi thăm tin tức. Chẳng còn
ai bị ốm nữa: cảm giác cái chết sắp đổ ụp xuống đầu đã khiến điều kỳ diệu ấy xuất
hiện.
Viên
thuyền trưởng xuất hiện trong khoang trống, nước chảy ròng ròng trên người. Ông
đã mất hoàn toàn hi vọng trong một khắc khi máy bị dừng hẳn. Thế là hết, chẳng
còn gì có thể cứu vãn được nữa, chúng ta sẽ bị đắm chìm. Nhưng ông đã trấn tĩnh
lại ngay lập tức. Có sáu trăm người trên tàu và mạng sống của họ đã được trao gửi
cho sự hiểu biết của ông, cho kinh nghiệm hàng hải của ông, ông không thể buông
vũ khí chiến đấu, phải làm được điều không thể làm. Sáu trăm người kia mà! Đó
là thứ quý giá, đó cũng là thứ mạnh mẽ nữa. Bởi đây không phải là sáu trăm lữ
hành dân thường mà ta chắc có thể mưu toan lạm dụng những thiện í rời rạc để kiếm
chút lợi nhuận. Chúng ta đang chịu trách nhiệm với sáu trăm binh sỹ có kỷ luật,
có chỉ huy, có những người lãnh đạo của họ, những người hẳn sẽ cống hiến đến kiệt
sức lực có trong những cơ bắp họ, sản sinh những cố gắng phối hợp. Để lái con
tàu thủy thì họ chẳng thể làm được gì. Những trận gió và những con sóng lừng
thích làm gì thì làm. Hơn nữa, cỗ máy chỉ vận hành khi tình hình về phương diện
này chắc sẽ chẳng khác nhau lắm. Con tàu chắc sẽ trụ vững hơn một chút trực diện
trước biển, chẳng thể hơn được nữa. Nhưng những người đàn ông kia có thể làm được
một phần, chí ít là thứ công việc của máy bơm hơi và múc lượng nước đã lọt vào
tàu qua các vết vỡ thành tàu và đổ ra ngoài.
Vị
trưởng tàu giải thích ngắn gọn cho chỉ huy phân đội, một thiếu tá, những gì cần
phải làm. Và trong các mạn thành tàu đang chao đảo lung lắc ấy, gần như bị lật ụp
trước mỗi một con sóng lớn, sẵn sàng đắm vào bất kỳ lúc nào; những người đàn
ông xếp thành hàng, sỹ quan, hạ sỹ quan bắt đầu ra lệnh, và dưới sự chỉ dẫn của
các thủy thủ, thành từng đại đội, tiểu đội, họ trườn xuống hầm tàu, chia đều từ
boong đến các hầm, các phòng nấu hơi. Những người bên dưới có lúc nước ngập đến
tận ngang lưng, sau đó đến tận cổ, còn ngập cả đầu vào những lúc con tàu bị
nghiêng. Họ đứng trên các đống than, trên các nồi hơi, bám vào các phụ tùng máy
mà lúc này nước biển cũng đã nhấn chìm; họ múc nước, đưa lên những xô đầy rồi
nhận lấy những xô rỗng, tất cả đều diễn ra sôi động và nhịp nhàng, trong một trật
tự hoàn hảo, dẫu những cơn rung lắc dữ dội mà đôi khi khiến ai đó bị tuột tay
khỏi thang và bị hất mạnh vào thành tàu. Một tiếng chửi thể phát ra, một tiếng
kêu vì đau đớn; chỉ thế thôi. Giọng nói của các chỉ huy lại tiếp tục vang lên với
những lời cổ vũ hoặc mệnh lệnh.
-
Nào! Chàng trai, dũng cảm lên!
-
Hạ sỹ quan, hãy cho một người xuống dần đi; chúng ta đang đợi xô.
Đêm
buông xuống mà chẳng có gì thay đổi ở phía trong con tàu, vẫn chỉ được thắp
sáng lờ mờ nhờ những ngọn đèn hiệu được treo càng ngày càng xa và chúng thực hiện
những vũ điệu lộn xộn dưới những cú tròng trành rập rình của con tàu. Đêm qua
đi hoàn toàn và ngày lại đến. Công việc đã không hề bị gián đoạn lấy một khắc, nghỉ
ngơi cũng không, ăn uống cũng không. Đó là một trận đấu mà các binh sỹ phải chịu
đựng, đảm bảo là khủng khiếp nhất trong chiến dịch mà họ vừa tiến hành ở Trung
Quốc, và phải chiến đấu cho đến tận lúc bị phá hủy hoàn toàn hoặc đến tận khi
thành công. Đã có vài nạn nhân rồi: một hạ sỹ đứng phía dưới, nước ngập đến tận
lưng, đã bị bất ngờ bởi một cú lắc cực kỳ dữ dội của con tàu, một luồng nước lớn
đã đẩy anh đập vào một trong những bộ phận của cỗ máy; anh bị chết ngay tại chỗ.
Hai người lính khác bị thương trong những tình huống tương tự. Nhưng một kết quả
đã đạt được, bởi lượng nước mà họ múc đổ ra ngoài gần như cũng nhiều bằng lượng
nước tràn vào tàu. Mực nước trong các hầm tàu, trong các phòng đốt, trong máy,
vẫn tiếp tục tăng, nhưng rất chậm. Cố gắng liên hợp, năng động, ủng hộ lẫn nhau
của sáu trăm con người đã tạo lên kết quả này. Họ kéo dài thời gian, đó là điều
chủ yếu. Trận cuồng bão sẽ qua.
Trong
ngày, sức gió giảm đi chút ít: những trận đòn của biển nã lên con tàu kém phần
tàn bạo. Nước chui vào tàu ít hơn và do họ tiếp tục múc hất ra ngoài, mức nước
hạ xuống. Sự tự vệ đã vượt hơn hẳn sự tấn công. Vài giờ sau, thời tiết trở nên
“mềm rẻo” hơn; cùng lúc, nước đã đủ cạn, một nhóm lò đã được dọn quang và họ đã
thành công nhóm lại được lửa, làm cho bơm hơi vận hành. Trên một vùng biển vẫn
còn mênh mông khủng khiếp, với vận tốc chậm, chạy ngập ngừng, có vẻ như một xác
tàu trôi dạt, Edrian đã về được cảng Đà Nẵng, tại đó, các binh sỹ được chuyển
lên bờ, mệt lử, và trong tình trạng thảm hại hệt như con tàu. Sự quả cảm của họ
trước hiểm họa, trước sự mệt mỏi vượt quá sức người, đã cứu sống họ. Trong cuộc
đấu tranh ấy, họ đã chứng tỏ cùng những đức tính đem lại chiến thắng vinh quang
trên chiến trường. Khi tôi nói sự dũng cảm là một! Và đây, thêm một bằng chứng nhận thực.
Biết
bao bằng chứng chứng minh.
Trong
cùng mùa hè năm 1900 ấy, con tàu hộ tống Kersaint, thả neo ở Hoihao, cảng nằm
trên đảo Hải Nam, gần eo biển, đã bị một trận cuồng bão bất ngờ đổ bộ xuống trong
đêm. Lửa đã nhóm và con tàu cố ra khơi. Nhưng trong vùng biển này, nơi có rất
nhiều mỏm đá ngẩm, đại dương tung những con sóng khổng lồ về phía eo biển, tạo
thành một luồng nước dữ dội mà con tàu khó có thể kháng cự nổi. Nó bị đẩy về
phía bờ. Họ thả neo nhưng neo không bám chắc; con tàu bị đẩy ra, và bị sóng biển
hất lên cao rồi nặng nề rơi bịch xuống, nó bị chạm đáy mạnh nhiều lần liên tiếp.
Sau một cú va chạm như vậy, họ nhận ra rằng nó không còn điều chỉnh nữa. Đêm
trôi đi trong một cuộc chiến đấu không ngừng, không phương tiện, không có bất kỳ
chỉ dẫn nào ngoài những điều được chiếc la bàn đem lại. Khi ngày đến, họ nhận
ra rằng bánh lái đã bị bung, các chân vịt hình như không bị ảnh hưởng; chí
ít thì chúng vẫn có thể quay. Với một trục
căng buồm, những cuộn dây chão và pa-lăng, họ bện thành một bánh lái tạm thời,
với bánh lái ấy, biển cũng đủ lặng xuống, con tàu Kersaint đã có thể nhúc nhắc về
được vịnh Hạ Long. Những tổn thất của nó trầm trọng hơn người ta lúc đầu đã
nghĩ. Tấm đồng gắn chặt phía đuôi tàu, ở sống tàu, đã bị vỡ. Bánh lái do bị mất
giá đỡ, đã rơi xuống biển. Cặp cánh của hai bộ chân vịt bị méo mó. Nói tóm lại,
con tàu tự trôi; không có thiệt hại về người; sự đóng góp phải trả cho cơn cuồng
bão đã không có gì thái quá.
Tôi
có thể nhân rộng những ví dụ về sự hủy hoại mà những cơn cuồng bão đã gây ra với
những chuyến tàu thủy. Chính tôi đã có dịp chứng kiến tận mắt, trong hai lần liền,
những hiện tượng khí quyển đặc biệt này trên biển, và tôi chắc sẽ có dịp nhắc lại
kỷ niệm ấn tượng ấy trong những trang tới đây của cuốn sách các bạn đang cầm
trên tay.
Điều
khiến những thảm họa kém thường xuyên hơn như chúng có lẽ phải thế theo sự lặp
lại của những cơn cuồng bão, đó là sự hiểu biết mà ngày nay chúng ta có được từ
sự hình thành và cách đi của chúng. Các đài quan sát khí tượng và từ tính, được
lập cho mục đích này ở vùng Cực-Đông, đã nghiên cứu chúng một cách khoa học từ
nhiều năm nay; các nhà hàng hải đã mang đến cho những nghiên cứu này một sự
đóng góp quý báu; chẳng còn gì trong vấn nạn này là xa lạ nữa. Khi một cơn cuồng
bão bắt đầu hình thành, các đài quan sát, trước tiên là đài ở Manille, thông
báo ngay tình hình ấy tới các cảng lớn trên biển Đông. Tất cả mọi quan sát thực
hiện được đều ngay tức thì được truyền đi. Với một sự độ lượng thông minh, mà
chúng ta phải hàm ơn họ, các hãng khai thác dây cáp đã chấp thuận miễn trừ cho
các bức điện báo khí tượng.
Những
trận cuồng bão đều ra đời trong cùng một miền ở Thái Bình Dương, nằm ở phía
đông và đông nam những hòn đảo Philipine. Luồng gió nóng ẩm từ đường xích đạo đến
đó vấp phải luồng gió lạnh từ miền bắc thổi xuống. Hình thành một lượng nước
nén nằm lơ lửng trong khí quyển và gây ra sự hình thành những cơn gió lốc cực kỳ
dữ dội. Chúng tỏa đi các phía khác nhau, và số lớn nhất trong đó sẽ thất lạc
trong đại dương mà chẳng ai biết đến sự tồn tại của chúng. Những cơn bão có thể
đe dọa các miền duyên hải Đông Dương hoặc Trung Quốc thì nhất định phải qua những
hòn đảo của Philippine và gây ấn tượng mạnh mẽ cho đài quan sát khí tượng
Manille. Đài này thông báo đến các cảng, qua dây cáp, sự hình thành của cơn cuồng
bão và hướng đi của nó. Người ta có thể dự tính nó sẽ hạ cánh xuống các vùng biển
nào. Đáng mừng là đôi khi cơn cuồng bão được thông báo đã không tới; nó không đủ
mạnh và đã dừng lại trên đường đi; trong trường hợp ấy, thường xuyên nhất,
chúng ta vẫn cảm nhận được một vài hiệu ứng. Một cơn mưa lớn hoặc một cơn bão
nhẹ, hệt như vẫn có trong các quốc gia vùng ôn đới, chỉ ra rằng đã có chuyện gì
xảy ra cách đó không xa. Đôi khi một cơn cuồng bão hơi chuyển hướng trên đường
đi của nó và trượt dần lên phía bắc hoặc xuống phía nam mà hướng đi được chỉ định
không cho phép dự báo điều ấy. Thế nên chừa một khoản sai số nhất định cho các
dự báo thời tiết là cần thiết.
Thông
thường, những cơn bão không xuống dưới đường song song với Manille. Phần Đông
Dương nằm phía dưới Đà Nẵng là một ví dụ. Tuy nhiên, một lần trong năm năm, một
cơn cuồng bão đã đến được Trung kỳ và ập vào các vùng phụ cận Quy Nhơn. Tôi khi
ấy đang có mặt trên con tàu thủy tiến về phía nó; con tàu đã phải đổi hướng và
bị cuốn về phía nam với một vận tốc mà những phương tiện của chính nó hẳn sẽ
không bao giờ cho phép mơ tưởng. Nam kỳ sẽ không biết tới cuồng bão, ta có thể
nói thế, nếu như vùng này có một kỷ niệm mơ hồ về một cơn bão đặc biệt mà nó đã
san bằng mũi Vũng Tàu thì tính đến giờ đã chừng bốn chục năm rồi.
Trên
toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, thì chính miền trung tâm Trung kỳ, giữa Đà Nẵng và
Vinh là nơi chường mặt đối đầu nhiều nhất với các cơn cuồng bão. Thuận An, điểm
duyên hải, nơi có dòng sông Hương (Huế) đổ ra biển, được thăm viếng thường
xuyên nhất. Năm 1899, tất cả các cơ sở chúng ta ở Thuận An đã suýt bị cuốn đi hết,
nước tràn vào các tòa nhà, chủ yếu là ngôi nhà của nhân viên văn phòng điện
tín, ông ấy trú trên tầng cao ngôi nhà cùng với cỗ máy của mình và tiếp tục
đánh điện gửi đi, thông báo rất đơn giản rằng vài khắc sau đó ông ấy rất có thể
buộc phải ngừng cuộc trao đổi điện tín; ngôi nhà bị rung chuyển và nước cứ tiếp
tục dâng, dẫu không muốn nhưng ông ta hẳn sẽ ra đi cùng tất cả các máy móc của
mình xuống đáy đại dương. Chỉ chút xíu nữa ông ta chắc sẽ được tha thứ bởi sự
gián đoạn làm việc này do sự cố nghiêm trọng. Cơn bão suy yếu đúng lúc để khiến
cho cái thông tin bất hạnh kia khỏi bị gửi đi; nhưng khi có thể ra ngoài, người
ta nhận thấy rằng cửa sông Hương đã bị đẩy ra khỏi chỗ nó vài ki lô mét. Sông Hương
đã có thêm lòng sông mới và đổ ra biển bằng lòng sống mới đó; lòng sông trước
đây gần như đã bị lấp đầy.
Bắc
kỳ ít bị chường ra trước những cơn cuồng bão hơn Trung kỳ, nó được đảo Hải Nam
bảo vệ ít nhiều. Dãy núi cao của đảo như đặt một thanh chắn trước bước tiến của
cơn lốc xoáy, và nó buộc phải tự chuyển hướng hoặc về phía bắc, hoặc về phía
nam. Toàn bộ một phần những cơn cuồng bão mà chúng hẳn sẽ đổ bộ vào Bắc kỳ nếu
những ngọn núi của đảo Hải Nam không chặn lại, thì lại rớt xuống các miền duyên
hải của Trung Quốc. Những cơn bão khác quay xuống phía nam, các độ cao kéo dài
trên phía này hạ dần cho đến tận biển; có vài cơ may để những cơn cuồng bão suy
yếu dần một phần độ mạnh của chúng. Từ năm 1897 đến năm 1902, đã không có cơn
cuồng bão nào đến vùng châu thổ sông Hồng với đầy sức mạnh tàn phá của nó. Hơn
nữa, dẫu đã suy yếu đi, bão vẫn còn gây những thiệt hại lớn.
Có
hoặc không có cuồng bão, mùa hè Bắc kỳ cũng chẳng dễ chịu gì cho người châu Âu
hoặc người Nam kỳ. Mùa đông thì ngược lại, chí ít thì cũng là phần đầu mùa, đó
là một mùa rất thú vị. Mới tháng mười một đã giảm nóng trông thấy; ta vận trang
phục flanelle hoặc drap, chúng thuộc quy chế của đoàn. Nóng còn giảm nhiều nữa
vào tháng mười hai và tháng giêng. Không khí mát và hanh khô; đêm và sáng sớm
còn gần như là lạnh. Vào giữa trưa, trong bóng râm, nhiệt kế không vượt quá hai
mươi độ; trong đêm nó còn xuống tới bảy tám độ, đôi khi thậm chí chỉ bốn độ. Ở
vùng cao, như Lạng Sơn hoặc Cao Bằng, chỉ còn một hoặc hai độ. Trong suốt hai
ba tháng liền, khí hậu ở vùng đồng bằng châu thổ, đặc biệt là ở Hà Nội, thì giống
như khí hậu mùa xuân ở Nice. Cuộc sống thực sự rất dễ chịu, và tất cả những ai
đã chứng kiến Bắc kỳ vào giai đoạn này thì đều có cảm giác rất tán thành.
Khi
thì vào hai tuần cuối tháng giêng, khi thì vào tháng hai, thời tiết thay đổi;
mùa đông không còn xứng đáng với cái tên mùa khô nữa. Điều mà người sống ở Nam
kỳ không biết, bầu trời đầy mây, mưa nhẹ
và xuất hiện liên tục. Đó là mùa trung gian của mưa phùn. Mặt trời ẩn sau những
đám mây; đôi khi ta không nhìn thấy những tia nắng trong suốt cả tuần, nửa
tháng hoặc thậm chí cả tháng. Không khí đặc lại khi tiếp xúc với tất cả bề mặt
lạnh: những bức tường, nền nhà đá hoa rỉ nước. Áo quần thấm đẫm nước; chẳng gì
ta đụng đến mà khô ráo cả. Rất khó chịu; đáng mừng là điều ấy không nguy hại. Tỉ
lệ người chết chỉ cao trong những tháng đầu mùa đông; không thấm tháp gì so với
tỉ lệ ấy vào các đợt mùa nóng. Mưa phùn chấm dứt, mùa trung gian kéo dài, với sự
xen kẽ của nắng và mưa, cho đến tận cuối tháng năm, thời kỳ bắt đầu mùa nước
dâng cao. Tóm lại, có sáu tháng trong năm nhiệt độ ở Bắc kỳ không quá cực đoan.
Người châu Âu chịu được một cách dễ dàng; nó khiến ta lấy lại sức lực mà mùa hè
đã có thể khiến ta yếu đi. Chính điều đó khiến cho các ông chủ Pháp và các công
chức, nếu họ vạm vỡ, có thể sống mãi mãi ở Bắc kỳ được. Những thiệt hại diễn ra
trong khối nhân sự tới từ chính quốc thì không có gì quá đáng, còn tỉ lệ người
chết, trong toàn bộ châu thổ thì cũng thấp như trong bất kỳ đất nước nhiệt đới
nào. Vậy nên có thể nói, một cách tổng thể, và toàn bộ sự bù trừ được diễn ra
giữa mùa hè và mùa đông rằng khí hậu ở Bắc kỳ là tốt, nó cho phép nền thuộc địa
tiến triển dưới mọi hình thức.
Những
điều vừa được nhắc đến về các mùa, theo hướng kế tiếp nhau, mưa phùn đến sau
mùa khô, theo một chế độ pha trộn giữa thời tiết đẹp và sau đó là những cơn
mưa, kế tiếp là mùa mưa lớn và nước dâng cao, chỉ là một trật tự chung và điều
này cho phép những ngoại lệ. Những ngoại lệ ở Bắc kỳ thì khá nhiều, và ta thấy
nhiều năm không có mưa phùn, những năm khác thì mùa mưa qua đi mà chẳng có giọt
nước nào rơi xuống. Và không có mưa phùn vào tháng Hai thì sẽ không có mùa thu
hoạch đầu tiên, được gọi là thu hoạch tháng năm (vụ chiêm - ND); không có mưa
mùa hè, thì không có thu hoạch vụ tháng mười. Tôi nói về điều ấy chỉ là nhờ tin
đồn thôi, bởi trong suốt năm năm tôi lãnh đạo ở đó, các mùa đều diễn ra bình
thường, các mùa thu hoạch đều tốt. Những năm 1895 và 1896 thì ngược lại, những
năm bị hán hán mà người dân Bắc kỳ đã phải chịu rất nhiều khổ sở.
Nam
kỳ chỉ có một mùa thu hoạch lúa hàng năm; Bắc kỳ thì có hai mùa. Mùa quan trọng
nhất là vào tháng mười theo lịch An Nam, rơi vào tháng mười một; mùa kia vào
tháng năm theo lịch An Nam, rơi vào tháng sáu. Một số vùng đồng bằng châu thổ,
những tỉnh giàu nhất, nơi dân chúng đông đúc, sự tưới tiêu phát triển, đem lại
những mùa thu hoạch khác trong năm. Nhưng thường xuyên nhất, không phải trên
cùng một nền đất mà hai mùa thu hoạch đó được diễn ra. Mùa thu hoạch đầu tiên, thời
kỳ ta thu hoạch lúa được cấy trong mùa khô, là sản phẩm của vùng đất trũng, ẩm,
chúng lưu giữ lượng nước mà mưa phùn và cộng thêm những cơn mưa xuân thi thoảng
đổ xuống, lượng nước này không nhiều, đủ đáp ứng nhu cầu cho những cánh đồng
lúa. Những khu đất này thường hay bị úng và không thể gieo trồng được vào mùa
hè. Vụ thu hoạch thứ hai được diễn ra trên tất cả những thửa đất quá cao, quá
khô để chỉ có thể đành lòng với chút nước mà mùa đông đem lại. Ở những khu đất
này, từ vài năm nay, người An Nam đề nghị một sản phẩm nữa, một sản phẩm mùa
đông, thu được nhờ gieo trồng những loại được gọi là khô bởi chúng không cần
nhiều nước như cây lúa, ví như khoai tây và đậu. Mùa thu hoạch thứ hai trong
năm này đem lại một sự luân canh mà
không hề khiến đất bạc màu như một mùa thu hoạch lúa hẳn sẽ gây ra.
Đất
đai ở Bắc kỳ phì nhiêu màu mỡ, cũng màu mỡ hệt như ở Nam kỳ. Dẫu nó được tạo
lên từ xa xưa hơn, trừ phần gần biển, nơi ta tìm thấy, giống như trong Sài Gòn,
những khu rất thấp, những khu này đã hình thành và gieo trồng, những khu khác
còn đang trong thời kỳ cải tạo, được nâng cao mỗi ngày nhờ phù sa các con sông
bồi đắp. Tại điểm này nữa, lớp đất mỏng đọng lại trên một đáy bùn nhão nông hoặc
sâu, ít nhiều ở thể lỏng. Thành phố Hải Phòng được xây dựng trên một nền đất
như vậy. Khi đi ngược lên vùng đồng bằng châu thổ, ta gặp những vùng đất cổ xưa
hơn, được củng cố bằng một lớp bùn đã cứng lại. Cuối cùng là những vùng khác,
được cấu thành từ rất xa xưa rồi và không hề để lại bên dưới chúng bất kỳ vết
tích nào của bùn. Trong thành phố Hà Nội, có những khu đất của hai loại cuối
cùng vừa được nêu.
Hải
Phòng và Hà Nội
Bài
nghị luận về những cơn cuồng bão và khí hậu của Bắc kỳ đã kéo tôi đi xa khỏi
câu chuyện về chuyến cặp bến của tôi, vào ngày mùng 1 tháng ba năm 1897. Tôi
quay lại chuyện đó nhanh thôi, giả thiết rằng thời tiết diễn ra như vậy đã cho
phép những con tàu của chúng tôi ra khỏi các đường nối quanh co giữa những hòn
đảo nhỏ của vịnh Hạ Long và đi theo những con kênh được đào một cách tự nhiên
và những con sông dẫn tới Hải Phòng. Ít lâu trước khi đến nơi, chúng tôi băng
qua một con sông rộng và đẹp, mặt nước nổi sóng khiến ta nghĩ đến dáng vẻ của một
khu biển xinh xắn; đó là cửa Nam Triệu. Phong cảnh tuyệt vời, và nước sâu.
-
Lẽ ra chúng ta nên thành lập cảng ở chính tại đây thay bằng đã lập ở Hải Phòng
một cách sai lầm, - có người nói với
tôi.
-
Nên dời cảng về đây thôi, - một người khác lại nói.
Và
một người thứ ba kết luận:
-
Nếu đó là một sai sót mà ta đã phạm phải khi đặt cảng ở nơi nó hiện hữu bây giờ,
và nếu một sai lầm khác cứ khăng khăng trong sai lầm đầu tiên và hiện giờ vẫn
tiêu tốn hàng triệu ở Hải Phòng, thì phải tin rằng một tương lai xa xa sẽ không
truy cứu chúng ta đâu. Theo lời dân bản xứ, những người biết rõ đất nước họ,
thành phố Hải Phòng và tất cả công việc của chúng ta sẽ bị một cơn sóng thần cuốn
hết đi mất thôi.
-
Đáng buồn đó là một tình huống đáng lo ngại có thể xảy ra.
Ở
Pháp, từ lâu tôi đã nghe thốt ra cùng những lời chỉ trích như vậy về vị trí của
Hải Phòng mà chúng ta đã chọn mà không nghiên cứu kỹ, vào năm 1874, và nói về
những khả năng có thể phả hủy nó. Điều đó thì cũng chẳng khiến giải pháp của vấn
đề thành lập ở Bắc kỳ một hải cảng có thể ra vào thuận tiện, trở nên dễ dàng.
Ngài Armand Rousseau đã tha thiết với vấn đề này, và chương trình dẫu rất khiêm
tốn mà ông đã thông qua không khiến ông thấy thỏa mãn, để lại nơi ông những ngờ
vực trên con đường mà chính ông đã cam kết. Nói rằng khung cảnh vướng sai lầm sẽ
không kéo dài lâu và rằng nó sẽ kéo theo một thảm họa, điều ấy có thể được coi
như là một lời đùa dí dỏm; đó không phải là một lập luận mà người ta có thể coi
trọng.
Nếu
như hải cảng đã được lập ở Cửa Nam Triệu, mà tôi đang chiêm ngưỡng lúc ấy, nơi
mà nó nên được chuyển dời về, thì liệu ta có được giải pháp tốt mà ta tìm kiếm
không? Điều này không chắc chắn lắm, bởi tra cứu bản đồ hàng hải thì thấy rằng một
số đoạn sông có rất nhiều nước, nhưng không phải là tất cả, và nói một cách cụ
thể, sông thiếu độ sâu ở điểm mà nó cần thiết nhất, ở cửa sông. Vậy là sẽ phải
nạo vét; nhưng sâu chừng nào? Giải pháp chọn lựa tự nó, tất cả những suy tính về
chi phí và những chuyện khác bị lùi xa, vẫn còn những bất ngờ lớn của nó.
Từ
Cửa Nam Triệu để đi đến Cửa Sông Cấm, dòng sông mà thành phố Hải Phòng đã được
xây dựng trên hữu ngạn của nó, phải đi qua một con kênh tự nhiên nối liền hai
dòng sông; nó có tên Van Cho. Nếu như nó sâu hơn và có những khúc ngoặt mềm mại
hơn, thì Hài Phòng chẳng có gì phải ghen tị với đối thủ tưởng tượng trên đôi bờ
Cửa Nam Triệu của nó.
Ta
đi từ Van Cho vào Sông Cấm, rất ít ở hạ lưu của cảng Hải Phòng. Thành phố chẳng
mấy chốc hiện ra trước mắt, với những ngôi nhà trắng khá thấp, chẳng mang tính
cách gì về kiến trúc. Duy nhất phủ Công sứ-thị chính hơi mang dáng vóc hoành
tráng. Từ năm 1897, mọi thứ đáng mừng là đã thay đổi theo cách nhanh chóng, và
chúng ta sẽ gặp thành phố rất được cải thiện. Hiện giờ, ở phía trong mà từ sông
không thể nhìn thấy, đã có vài ngôi nhà đặc biệt được xây dựng chắc chắn và tiện
nghi.
Cảng
thương mại gây cảm giác khá xoãng xĩnh. Cách kết cấu, sự bố trí, chẳng ra một
thể loại nào, tàu thuyền cũng không. Ở giữa sông, một con tàu thủy hơi nước nhỏ
thuộc về một nhà của giới doanh thương, chuyên đi lại từ Hải Phòng đến Hồng
Kông với những đợt quá giang trong các cảng Pakhoi và Hoihao của Trung Quốc. Chẳng
có con tàu thủy vượt biển nào khác. Hãng Thư Tín Hàng Hải sở hữu hai tàu vận
chuyển khách nhỏ nặng 2400 tấn để chở bưu phẩm, mười lăm ngày một lần, đi từ
Sài Gòn ra Hải Phòng và ngược lại; nhưng một trong hai con tàu ấy không phải
lúc nào cũng có mặt tại đây để làm cho cảng Hải Phòng đầy thêm. Thế nên chỉ
đành hài lòng ngắm nhìn hai ba chiếc tàu gỗ chạy đường sông của một sở được trợ
cấp, hơn nữa lại là tàu thủy Trung Quốc đóng tồi, bẩn, hình thức và tư thế kỳ cục.
Phía
trên cảng thương mại, nhỏ xíu và cũng chẳng có gì hệt như nó, là cảng quân sự.
Một con tàu vận tải cũ, bị xuống hàng tàu trại lính hoặc chỉ đơn giản là một
đơn vị hành chính hàng hải, con tàu Adour,
đang buộc neo ở bờ, không sử dụng đến, nằm cố định, điểm trang cho phong cảnh bằng
lớp vỏ màu trắng của nó vượt cao hơn hẳn mặt nước. Rồi đến một pháo hạm biển,
có bánh xe, tên là Alouette, và hai pháo hạm sông, Avalanche và Jacquin, đều thả
neo và được trang hoàng cờ hoa lộng lẫy hợp tình huống, hình hài chúng hắt lên
bầu trời thấp những chấm sắc đa màu. Còn tàu Jacquin, với dáng thể hình hộp của mình, bánh xe lớn dẫn tiến phía
sau, thì có vẻ kỳ cục; nó có lẽ giống, trừ độ trắng và sự sạch sẽ của nó, những
con tàu giặt trên sông Seine hơn.
Cả
hai cảng thương mại và cảng quân sự, làm thành một tổng thể khá sơ sài. Đó là,
ta có thể hi vọng điều ấy, phôi thai của cái gì đó to lớn; nhưng chẳng có gì
thông báo lẫn chuẩn bị cho điều ấy sẽ đến cả. Rõ ràng là tiền sảnh này của Bắc
kỳ thật chưa quá hoàn hảo cho lắm.
Tuy
nhiên trong thành phố, đã có những cố gắng cá nhân, những khởi xướng đáng khen
đã được tiến hành. Có hai công trường xây dựng có xưởng đóng tàu thủy hơi nước;
một xưởng đóng một con tàu hút bùn lớn nhằm phục vụ cho những công việc ở cảng.
Hãng dịch vụ hàng hải đường sông sở hữu xưởng thứ hai và chính từ đây, họ cho
xuất xưởng toàn bộ đội tàu của mình. Về tổng thể, điều ấy chưa mang tầm một hoạt
động công nghiệp tầm cỡ; nhưng là một sự khởi đầu tốt và có triển vọng, với điều
kiện các nhà công nghiệp có khả năng tự mình hành động mà không phải cứ chờ đợi
tất cả ở chế độ Bảo Hộ. Sự có mặt của một dịch vụ hàng hải Pháp không được tài
trợ, đảm bảo sự thông tuông giữa Hải Phòng, miền duyên hải Trung Quốc của vịnh
Bắc Bộ và Hồng Kông cũng là một dấu hiệu đáng mừng và hoạt động hiếm hoi về
phía các đồng bào của chúng ta. Vậy nên ta có thể vượt qua thời điểm hiện tại
khiêm tốn và hơi khập khiễng của Hải Phòng để tính đến thời tương lai có thể của
nó.
Trong
các lễ đón tiếp được tổ chức cho chuyến cập bến của tôi, tôi đã có cảm giác về
một cuộc sống địa phương. Phòng thương mại, Hội đồng hành chính địa phương chứng
tỏ tình yêu mến dành cho thành phố của họ, niềm tin lớn nhất vào sự phát triển
tương lai tại đây. Một hiềm tị nào đó đối với Hà Nội, thành phố thủ đô, phát ra
rõ ràng qua những tình cảm đáng ngợi khen ấy: nhưng họ cố gắng che giấu nó, và
sự e lệ ấy có giá của nó. Các thành viên Hội đồng hành chính kín đáo bóng gió tới
“chủ nghĩa tự do rất nổi tiếng” của tôi. Tôi không thể hiểu lầm về ý nghĩa của
những lời nói này; chúng nhắm vào sự tổ chức của thành phố, mà trong đó Hội đồng
địa phương hoặc một số thành viên mong muốn có sự thay đổi.
Thành
phố Hải Phòng khi đó đã từng và vẫn còn được quản lí bởi một viên chức của chế
độ Bảo Hộ, một Công Sứ - Thị trưởng, được một Hội đồng dân bầu trợ lí. Phần
thành viên người Pháp ở Hội đồng, chiếm đa số, được bộ nhiệm qua kết quả bầu cử,
nhờ những công dân Pháp của thành phố; hai người An Nam và hai người Trung Quốc
là phó, trợ lí cho ông ấy. Ngài Thị trưởng và Hội đồng có những cấp bậc quyền hạn
riêng mà chúng đã được thuận cho họ ở Pháp, chiểu theo luật bầu cử thành phố.
Áp dụng toàn bộ chế độ của chính quốc hẳn sẽ phù hợp hơn rất nhiều so với một
chế độ pha trộn với những thành viên Hội đồng thành phố, những người này có thể
hi vọng chức Thị trưởng trong trường hợp vị quan viên này sẽ được bầu nhờ Hội đồng
thành phố. Tôi không nghĩ cần đem lại sự thỏa mãn cho niềm mong muốn mà người
ta có ý để tôi cảm nhận thấy trong ngày đầu tiên, còn chưa nói ra nhưng sau đó
thì đã giới thiệu cho tôi nhiều lần liền. Thỏa thuận giữa chính quyền địa
phương được thực thi trực tiếp bởi quyền lực thượng cấp và một tổ chức hoàn
toàn do dân bầu, điều này tồn tại ở Hải Phòng và nó phải chịu ơn ngài De
Lanessan, tôi nghĩ có vẻ như rất may là ông ấy đã tìm ra. Chẳng có bất kỳ lí do
nào để thay đổi nó cả, nếu không phải để thực hiện một sự giả mạo thuộc địa
ngoài thể chế tự do của nước Pháp.
Đúng
vậy, căn cứ vào quy định nào mà người ta trao cho chừng bốn năm trăm cư dân
Pháp, phần lớn là làm công ăn lương của Thuộc địa, sự quản lí một thành phố chừng
mười đến mười lăm ngàn dân, lấy quyền hạn cho một nhúm người áp đặt cho hàng
ngàn dân chúng mà họ sẽ chẳng được trưng cầu ý kiến gì chứ? Cho những cư dân
này phần đa số trong hội đồng thành phố, khi trao quyền khởi xướng và thực thi
của Thị trưởng mà không tính đến họ, đó liệu có phải là tất cả những gì được thực
hiện một cách hợp lí không? Ví dụ từ Sài Gòn, những kết quả thảm hại thu được
do đã tiến hành một sự tổ chức khác, khẳng định cho lập luận về kinh nghiệm.
Nên bằng lòng với những gì đang tồn tại ở Hải Phòng, và đã được thực hiện như vậy.
Cùng
thể chế thành phố như thế ở Hà Nội, và chúng vận hành ở đây cực tốt, không hề gặp
khăn gì, không vấp váp, vì sự thịnh vượng lớn nhất của thành phố. Chúng ta đã
có thể bổ nhiệm đứng đầu Hội đồng thị chính thành phố những viên chức có giá trị
thực sự và dồi dào kinh nghiệm quản lý hành chính, họ đã đạt được sự hợp tác tận
tụy của các ủy viên hội đồng thành phố được bầu. Những mối lợi của Hà Nội đã được
tìm thấy ở đó.
Tôi
đã quá giang ở Hải Phòng, trong chuyến thăm cập bến của tôi, chỉ vài giờ đồng hồ.
Tất cả chúng tôi lại đi ngay vào buổi tối, trên những chuyến tàu sà lúp, để đến
thủ đô. Đó là một chuyến đi kéo dài từ mười lăm đến hai mươi giờ, tùy theo số
lượng và tầm quan trọng của những chỗ mắc cạn bình thường. Thi thoảng có khi ta
còn mất rất nhiều thời gian, nếu như đã không tính toán kỹ thời điểm nước thủy
triều để có thể cảm nhận được những đoạn nguy hiểm, hoặc nếu như nước sông khi ấy
xuống thấp một cách đặc biệt, hoặc nữa là nếu như ta không cầm lái chính xác
trong đoạn sông hẹp, mà nó vốn thiếu tính cố định. Với những thủy thủ dày dạn
kinh nghiệm đưa chúng tôi đi, thì ít có cơ bị mắc cạn một cách đặc biệt, và
chúng tôi phải về đến Hà Nội vào sáng sớm ngày hôm sau.
Chúng
tôi đi trong cách dòng kênh, các sông và cuối cùng là sông Hồng và phải đi dọc
theo nó, tất cả đều suôn sẻ, với những cú mắc cạn cổ điển, nhưng không có gì
hơn nữa. Buổi sáng, vào lúc ra khỏi kênh Bambous (Tre) để tiến vào sông Hồng,
chúng tôi nhìn thấy năm tàu thủy chạy hơi cùng tập hợp trên một khoảng rất hẹp,
cả năm tàu đều mắc cạn, hệt như rồi cũng đến lượt tàu chúng tôi. Ở đây có hai
tàu thường trực, có nghĩa là hai con tàu sà lúp lớn của sở được chế độ trợ cấp
chạy giữa Hải Phòng và Hà Nội, một chuyến lên, và chuyến kia xuống và hiện giờ
chẳng lên cũng chẳng xuống nữa, tụ họp trong cùng một nỗi bất hạnh. Ba tàu
Trung Quốc xếp hàng cùng với họ. Chúng tôi nhẹ nhàng băng qua giữa những con
tàu ấy, hết sức cẩn trọng. Một cú rung xuất hiện, rồi tiếp cú nữa, và kế đến là
chẳng còn va chạm nữa, chẳng còn cử động nữa, chẳng còn gì hết! Con tàu của
chúng tôi đã đến lượt bị mắc cạn. Chúng tôi sẽ ở lại đó ư, một cách bình thản,
như những con tàu khác, đợi nước lên mà nó có thể chẳng đến ngay đâu? Nhất định là không rồi. Ông chủ tàu thao tác
những những bộ chân vịt, bánh lái, sào móc, dây chão mà ông cho ném sang các
tàu khác. Tất cả những phương tiện có trên tàu đều được sử dụng. Bụng tàu ì oạp
trên cát, tiến lên, lùi xuống, sang phải, sang trái, nhiều và quá khéo đến nỗi
mà nó bứt lên: nó nổi rồi. Tiến lên nào!... Một cú lắc nữa; chúng tôi đã lại
dính rồi. Nhưng đó chỉ là một cú báo động giả; chúng tôi sẽ không bị mắc cạn.
Chúng tôi ra khỏi đoạn nguy hiểm cuối cùng; từ đây về Hà Nội chẳng còn gì phải
e ngại nữa.
Chúng
tôi chạy ngược dòng sông trong chừng năm sáu giờ đồng hồ và thành phố xuất hiện.
Bệnh viện là thứ ta nhìn thấy đầu tiên, một tòa nhà xây bằng đá rộng mênh mông
được dựng sát mé nước. Cũng rộng, nhưng không đẹp bằng bệnh viện ở Sài Gòn. Xây
cất nhẹ nhàng, có thể nói như mây, ở Sài Gòn thì được và nó hoàn toàn phù hợp với
khí hậu miền nam, nhưng nó sẽ không có chỗ ở đây, nơi trời lạnh suốt nhiều
tháng trong năm. Ở Bắc kỳ, chúng ta không thể xây dựng những ngôi nhà xứ nhiệt
đới, lẫn những ngôi nhà theo kiểu châu Âu. Mùa hè, trời quá nóng để ở trong những
ngôi nhà này, mùa đông lại quá lạnh để ở những ngôi nhà kia. Vậy là phải tìm ra
một kiểu xây dựng pha trộn, nơi mà ta tránh được nắng, không khí thông tuông
trong mùa nóng; nơi mà ta có thể đóng kín và đốt lửa sưởi trong mùa đông. Vấn đề
đã không được đưa ra gắt gao vào năm 1897, và tôi không chắc nó vẫn đang được
bàn thảo như thế, mặc dù những tìm kiếm được thực hiện, kể từ khi đó nhiều công
trình thú vị được khởi thảo xây dựng.
Khi
tàu tiến gần đến Hà Nội, bệnh viện không còn che khuất hoàn toàn thành phố được
nữa; trước tiên chúng tôi băng qua nó, sau đó băng qua trước các công trình màu
xanh lục nằm rải rác, đó là những tòa nhà thuộc các sở quân sự, của ban tham
mưu, rồi đến ngôi nhà của Tổng Tư lệnh, ngôi nhà này có mặt tiền tương đối nhô
ra phía sông, nhưng hình như chẳng có gì phía sau hết. Cuối cùng, đã đến phủ Thống
đốc toàn quyền, nhưng chỉ nhìn thấy thấp thoáng, bởi rất nhiều cây nhô cao và
bao quanh nó. Chúng tôi đã chỉ nhìn thấy tất cả từ rất xa mà thôi, cách chừng một
ki lô mét rưỡi. Khúc sông hẹp mà chúng tôi phải băng qua thì trên thực tế đi dọc
bên tả ngạn, trong khi Hà Nội nằm bên hữu ngạn sông. Một hòn đảo dài và thấp
ngăn cách chúng tôi với thành phố. Hòn đảo ấy dài không dưới hai ki lô mét. Nó
chỉ vừa được tạo thành mới đây thôi, và người ta cho nó một cái tên duy nhất xứng
đáng với nó, cái tên Bãi cát. Đó là một bãi cát mà mà dòng
sông đã mang tới ngày hôm qua và nó lại cuốn đi vào ngày mai. Sông Hồng thường
diễn ra những trò độc đáo như thế. Bờ sông, phía bên thành phố, cũng chẳng xấu
hay đẹp hơn phía bờ bên kia. Nó là những gì mà thiên nhiên đã tạo lên nó; đó là
một thể dốc bất bình thường, lồi lõm với nền đất sụt lở và mưa phùn biến chúng
thành một thứ bùn nhớp dính. Sự can thiệp của con người chỉ khiến cho sự bừa
bãi đó tăng thêm. Bên mé nước, có những túp lều của người bản xứ, những chiếc
thuyền tam bản đậu trên cạn chờ sửa chữa, bằng gỗ, bằng tre, vân vân... Chúng
tôi sẽ băng qua giữa tất cả những thứ đó. Nhưng việc xuống tàu không đơn giản
như ta hình dung. Một con tàu sà lúp không thể trườn đi giữa bờ sông và bãi
cát, và trước tiên thì phải đi xuống từ bãi cát. Những con tàu của dịch vụ thường
trực cũng ghé bờ tương tự như vậy.
Tất
cả giới chức trách của Hà Nội đều có mặt trên bến tàu. Tướng tổng chỉ huy, ngài
Bichot; Tổng thư ký, người đã tiến xa trên sông để đón tôi; Ngài Morel, Công sứ-Thị
trưởng, và Hội đồng thành phố của ông; các công chức, các sỹ quan, phòng thương
mại, những ông chủ thuộc địa cao quý. Chúng tôi chào nhau, những lời giới thiệu
sẽ được thực hiện lát nữa với Thống đốc Toàn quyền. Mặc dù lúc này mưa phùn đã
tạm dừng, thì cũng chẳng phù hợp lẫn dễ chịu khi làm quen ở đây.
Xe
hơi đã không thể đến được sát bến tàu, cây cầu gỗ nối liền bãi cát với thành phố
có nguy cơ sẽ bị sụp. Người ta cho tôi lí do này để chứng minh cho cuộc dạo bộ
được tặng cho tất cả chúng tôi trong nền đất nhão.
Thế
là cả đoàn chúng tôi băng qua bãi cát, trơn trượt và bì bõm đến mức tệ nhất. Cả
đoàn thận trọng qua cầu, không nên phiêu lưu qua đó cả trăm người một lượt, và
các hiến binh chỉ để từng nhóm nhỏ một vượt qua. Tôi tin chắc họ đã chỉ để mình
chúng tôi gồm Tướng chỉ huy, Tổng thư ký và tôi, dấn vào cầu do sự thận trọng
quá đáng. “Những người có sức nặng kia mà!”, chàng hiến binh đó hẳn đã nghĩ thế.
Không phải do cây cầu quá cũ mà trở nên yếu đến thế đâu; nó có vẻ gần như mới
tinh.
-
Cây cầu này được xây dựng từ khi nào vậy?
-
Chừng gần hai tháng nay, vào cuối mùa nước dâng cao mới đây, - họ trả lời tôi.
-
Sao lại dựng nó quá mảnh mai nhường này?
-
Nó chỉ là tạm thời thôi.
-
Ta không thể gia cố cho nó vững được à?
-
Hai tháng nữa, nó sẽ bị mùa nước dâng cao mới cuốn đi thôi.
-
Ta không thể làm một cây cầu vững chắc, kéo dài lâu ư?
-
Bãi cát, nó buộc phải có một cây cầu, thì chính nó sẽ không kéo dài được; dòng
sông sẽ cuốn nó đi trong ngày một ngày hai thôi.
Các
kỹ sư luôn tìm ra lời đáp cho mọi câu hỏi. Chẳng còn gì để nói nữa; tôi tin chắc
chí ít một điều này, đó là sông Hồng, với những cơn lũ của nó, sự thay đổi các
dòng nước, lượng cát nó đem đến, sẽ khiến công việc trở nên khó khăn. “Một kẻ trằn
trọc luôn luôn náo động trên giường ngủ của mình”, ông chủ tàu già của chúng
tôi đã nói về nó như thế. Tuy nhiên tôi chẳng lấy làm chắc chắn rằng người ta lại
không thể tìm ra phương tiện để khiến sự cập bến Hà Nội trở nên thuận tiện hơn,
và kè tàu ở bến kém tồi tệ hơn.
Bên
ngoài cầu, bên dưới một con dốc dẫn ta leo lên bờ, sền sệt trên thứ đất nhão,
các đoàn quân nhạc vang lên lời chào và các xe hơi đang đợi. Đó là đoàn bộ binh
hải quân, đó là những đội lính bản xứ, hệt như ở Sài Gòn. Lính bản xứ ở Bắc kỳ
cao lớn hơn, rắn rỏi hơn ở Nam kỳ. Giữa họ, hoàn toàn tự nhiên, có sự khác biệt
mà ta vẫn nhận thấy trong dân chúng, ở đây tựa như ở những nơi khác “binh lính
được tuyển trong khối dân sự”, - viên Tướng đã nhắc tôi như vậy.
Và
hiện giờ chúng tôi đã trong xe hơi, băng qua một khu phố, khu người Pháp và khu
thương mại. Khu phố rất náo nhiệt; những người đàn ông và phụ nữ Pháp đều đứng
bên cửa sổ vẫy chào một cách đáng mến; dân An Nam đứng thành đám đông trên phố,
thốt ra những tiếng “A!” ngưỡng mộ. Với họ và hơn nữa cũng hoàn toàn chuẩn xác,
Thống đốc Toàn quyền không phải đặc biệt là một trong những ngài bất kỳ nào đó
đang ngồi trong các xe hơi; trong lễ phục trang trọng hoặc quân phục; toàn bộ
những thứ ấy đang diễn ra trước mắt họ, tổng thể tạo thành một khối mà họ không
phân biệt được những chi tiết và chính bộ máy quân sự đã đem lại cho khung cảnh
ấy một đặc tính về vẻ đẹp và sức mạnh. Cho đến tận lúc này, sức mạnh ấy về vũ
khí, được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật, làm lên ưu thế duy nhất mà người An Nam
công nhận cho chúng ta. Sức mạnh ấy đã đem đến cho họ sự an bình trong tâm tư,
sự an ninh, trật tự, thứ đầu tiên trong mọi của cải, mà không có nó sẽ chẳng có
gì khác tồn tại được. Đó đã là thứ gì đó đạt được, nhưng chúng ta có thể và
chúng ta phải làm hơn thế nữa. Nền văn minh cho chúng ta những ưu thế khác nên
đã đến lúc cần khiến cho chủng tộc mà ta chinh phục được cảm nhận những hiệu quả
lành mạnh. Hơn nữa, nước Pháp sẽ không phải là người cuối cùng được hưởng lợi từ
điều ấy.
Tòa
nhà của Chính phủ, nơi mà chúng tôi đến, có dáng vẻ của một ngôi nhà nông thôn
với diện tích trung bình, hay đúng hơn là giống như một trong những biệt thự nằm
cạnh Địa Trung Hải mà đám người có gia sản khiêm tốn, đến xứ sở mặt trời bởi
tình trạng sức khỏe của họ hơn là bởi sự thích thú và theo mốt, do khu vườn
xinh xắn nằm phía trước trồng những cây miền nhiệt đới. Chỉ tìm kiếm những nhu
cầu phù hợp sở thích cá nhân thì ngôi nhà rất dễ chịu, trong khung cảnh đời sống
gia đình thì ta chắc chắn sẽ thấy thoải mái ở đây hơn nhiều so với ở trong một
cung điện lớn. Nếu liên quan đến lễ nghi tiếp đón, thì đó lại là chuyện khác.
Nhưng nói chung, ở đây chúng ta chỉ là giữa người Pháp với nhau. Hà Nội ở quá
xa những luồng giao thông lớn, các mối liên lạc với bên ngoài quá khó khăn để
có thể có đông khách nước ngoài. Chừng nào mà điều ấy chưa thay đổi, cuộc sống ở
đây sẽ còn rất dễ chịu để làm việc cũng như sinh hoạt cùng với những người thân
của mình.
-
Một chỗ ở như vậy dành cho Thống đốc Toàn quyền không gây được hiệu ứng tốt trước
những người bản xứ, - ngài Armand Rousseau đã nói với tôi điều này một năm trước;
điều ấy thật chẳng xứng đáng với người đại diện của nước Pháp.
Ngài
Rousseau nói đúng; nhưng có thể một số việc khác cấp thiết hơn sẽ gây ấn tượng
lên dân chúng An Nam, và một khi những công việc đó được hoàn thành, tôi sẽ có
thể nghĩ tới tòa cung điện cho những người kế nhiệm tôi.
Đêm
buông xuống, hay gần như thế, khi chúng tôi bước vào những gian phòng tối lờ mờ
và chỉ hơi thoáng khí của dinh Chính phủ toàn quyền; lễ đón tiếp chính thức được
thực hiện dưới ánh sáng đèn điện – một ưu thế nổi trội hẳn của Hà Nội so với
Sài Gòn. Tướng Tổng chỉ huy trình diện cùng với rất đông thành viên ban tham
mưu. Tất cả những sỹ quan này, bắt đầu bằng vị tướng của họ, đều là những người
từng tham gia vào công cuộc chinh phục Bắc kỳ. Rất nhiều người đã đến
Madagascar, đến Soudan. Đó là những người sống sót qua những chiến dịch mà phần
đông đồng đội họ đã nằm lại. Chỉ cần xem qua vài khóa các sỹ quan thuộc các bộ
phận lục quân và pháo binh hải quân và theo họ trong suốt chừng hai chục năm để
thấy đội quân nho nhỏ ấy sáng rạng nhanh chóng và chẳng đi đến đâu. Cái chết
triệt hạ hàng ngũ họ với một sức mạnh dữ dội và một sự liên tục đáng buồn. Lĩnh
vực thuộc địa của nước Pháp tại châu Phi và châu Á được dựng lên nhờ máu của họ.
Tướng tổng chỉ huy đảm bảo với tôi sự tận tâm của những con người dũng cảm ấy,
trong tổng thể các đội của binh đoàn chiếm đóng mà ông ấy chỉ huy. Tôi nói với
họ những gì tôi nghĩ về họ và những gì tôi chờ đợi nơi họ. Cần phải hoàn thành
mà không chậm trễ sự bình định, rồi tổ chức lại Bắc kỳ, nâng tầm giá trị của
nó, và lập lên quân đội của nó, không còn là những chiến dịch đối nội nữa, mà
là để bảo vệ đất nước, cho mọi hoạt động đối với bên ngoài mà Chính phủ Cộng hòa
Pháp sẽ đòi hỏi. Người sỹ quan tại các thuộc địa không chỉ đơn thuần là kẻ đi
chinh phục, anh ta còn là một nhà bình định, một người quản lí chính quyền, một
kỹ sư. Tôi sẽ phải cậy nhờ đến họ cho những công việc khác nhau và tôi chắc chắn
họ sẽ đem tới cùng một trí thông minh tận tụy và năng động trong mọi lĩnh vực.
Viên
chức thuộc các sở khác nhau ở Hà Nội thì không đông bằng số lượng ở trong Sài
Gòn. Họ được giới thiệu với tôi thông qua các nhà lãnh đạo cao nhất của họ, và
chúng tôi có cuộc làm quen nhanh chòng. Phòng thương mại, các đại biểu giới ông
chủ thuộc địa theo sau. Sau đó là đến lượt các nhà báo. Có rất nhiều báo Pháp ở
Bắc kỳ, và một lượng rất nhỏ độc giả có thể. Sự chênh lệch đáng lo ngại; nếu như
các tờ báo không thể sống nổi bằng các độc giả của chúng, chúng lấy nguồn tài
chính từ đâu đây? Tương lai có thể sẽ cho tôi chiếc chìa khóa của sự huyền bí ấy.
Hơn nữa, cuộc hội kiến diễn ra tốt đẹp không chê vào đâu được. Tôi được nghe kể
rằng chuyện đã không diễn ra như thế nhân chuyến cập bến của ngài Rousseau. Dưới
bức tường hoa đón mái nhỏ xíu của phòng khách, hai tổng biên tập của hai báo lớn
ở Hà Nội, dẫu cả hai đều đã có tuổi, đã đụng độ nhau, thậm chí còn dùng đến cả
tay chân để nói chuyện và đã lăn xả vật nhau ngay trên nền nhà trước niềm vui
thú khôn tả của các đồng nghiệp. Tôi vui mừng vì không phải chứng kiến cảnh ấy
lặp lại.
Ngài
Rousseau đã rất đau khổ, - họ nói với tôi, - về những cuộc tấn công mà các tờ
báo đã chường ra trước ông. Tôi có vài í tưởng để điều ấy khỏi xảy ra với tôi;
có lẽ tôi sẽ bị tấn công, điều đó không nói trước được, nhưng tôi sẽ xoay xở để
không bị xúc động trước điều ấy. Các báo thì đại diện cho cái gì ở đây, ở Hài
Phòng hay ở Sài Gòn chứ? Không ý kiến quần chúng, không đảng phái; người ta
không làm chính trị và chẳng có đảng nào. Chúng thậm chí không thể phản ánh những
tình cảm của một lượng khách hàng nghiêm túc; chúng quá nhiều cho một lượng
viên chức ít ỏi hoặc các thương gia có khả năng đọc chúng. Tờ báo vậy là bộc lộ
suy nghĩ cá nhân của người biên tập, và suy nghĩ đó đáng giá điều mà người ấy
đáng giá, con người mà ta biết rõ cuộc đời và những tiền sự kiện và dễ dàng
phán xét; hoặc nữa, nó đại diện những mối lợi đặc biệt của ông chủ nó, thường
là nhà cung cấp hoặc cai thầu của chế độ Bảo Hộ, nó đem đến sự can thiệp hòa giải
hoặc thứ khiến ta e ngại... Do tôi không có í định để cho mình bị ảnh hưởng bởi
những cái mơn chớn hoặc những đe dọa, mà tôi sẽ gặp khá nhiều người để biết rõ
tình trạng tâm tư và nhân dịp nắm lấy những ý tưởng tốt mà chúng có thể bộc lộ
ra, quyết định của tôi đã xong: tôi sẽ có, nếu họ mong muốn điều ấy, những mối
quan hệ tốt với các nhà báo địa phương, tôi sẽ không quan hệ với các tờ báo dưới
bất kỳ hình thức nào. Họ sẽ nói những gì họ muốn, và như họ muốn; tôi sẽ không
đọc chúng, tôi sẽ không bao giờ gặp họ; họ sẽ không ảnh hưởng gì đến những quyết
định của tôi và sẽ không để cho sự khách quan của tôi bị rối loạn. Có thể ngài
toàn quyền Rousseau hẳn sẽ không qua đời nếu như ông đã có thể đặt mình vào chế
độ này. Về phần mình, tôi đã ở hẳn trong đó rồi. Tôi không những đã không bao
giờ đọc báo của Đông Dương, mà trong sở của tôi đã không ai quan tâm đến chúng
cả. Tóm tắt và dịch những bài báo của châu Âu, những tờ báo thuộc địa ngoại quốc
của châu Á, là những báo chí được đặt duy nhất của văn phòng chính trị.
Trong
số những người Pháp mà tôi đón tiếp tại văn phòng Chính phủ toàn quyền có người
đứng đầu xứ mệnh Công giáo, Giám mục in
partibus, “khâm mạng tòa thánh” của Bắc kỳ Tây phương. Đức ông đã đi cùng với
cha xứ của Hà Nội, một cựu chỉ huy trưởng Công binh khảo sát của Bắc kỳ, mà đức
tin mãnh liệt đã đẩy ông ấy trở thành cha xứ. Cao, gầy, rắn rỏi, vẻ mặt cương
quyết, ông ấy vận đồ quân phục chắc hợp
hơn là áo chùng, thứ trang phục mà trong đó, cơ thể ông chuyển động hơi vụng về.
Một cha xứ bắt nguồn từ một nền giáo dục quân sự và cơ thể cường tráng của ông ấy
hẳn rất đáng quý trong một quốc gia có kẻ thù đe dọa, nơi mà hiểm nguy rình rập
mỗi ngày. Hà nội đã trở nên quá bình an, quá văn mình đối với ông, và tôi chắc
chắn rằng ông đặt không đúng chỗ trong những lời cầu nguyện của mình những gì
góp phần biến xứ đạo của ông thành một thành phố văn minh hóa, gần như là châu
Âu.
Có
những hội truyền giáo Công giáo Pháp trong tất cả các miền ở Đông Dương, ở miền
nam, ở miền bắc, ở miền trung, ở Căm-puchia; các Hội đó đã thâm nhập vào Đông
Dương trước khi nước Pháp tiến hành cuộc chinh phục các vùng đất này. Ngày nay
họ sống dưới sự bảo vệ của luật pháp Pháp, và hình như họ sống rất tốt và hạnh
phúc, bởi họ không có lịch sử. Tôi không tin rằng số lượng người Công giáo tăng
nhanh ở Đông Dương. Chẳng có gì thúc đẩy người bản xứ thay đổi tôn giáo cả. Họ không
là đối tượng của bất kỳ sự lôi kéo nhiệt tình nào; họ nhìn các đồng bào mình
chuyển sang Cơ đốc giáo với một vẻ không hận thù không ganh ghét gì hết; họ chẳng
bị bất kỳ sự cố chấp nào thúc đẩy hay khích lệ và chẳng sợ hãi ai về cái gì. Số
người Công giáo hơn nữa rất thấp, so với số đệ tử của Phật và của Khổng Tử. Các
quan lại và viên chức bản xứ biết giữ cán cân bình đẳng giữa mọi người trong
các bản làng, vốn không đông lắm, nơi mà hai tôn giáo cùng đồng hành. Các nhà
quản lí Pháp thì thờ ơ; họ chỉ yêu cầu bỏ qua sự tồn tại của các giáo hội, không
bao giờ can thiệp vào một trận cãi cọ. Chế độ chia tách quyền lực dân chủ và
các tôn giáo vận hành ở Đông Dương mà chẳng gặp khó khăn gì và không có đụng độ.
Các giám mục, các nhà truyền đạo là những người Pháp được tôn trọng và được
đánh giá cao; họ chẳng có tính chất quyền lực chính thức nào hết.
Tôi
không phải thực hành một nghiệp vụ đức tin cá nhân mà nó chẳng dính dáng gì với
việc thực thi của Chính phủ; nhưng người ta thừa biết rằng tôi không phải là một
người Công giáo tín ngưỡng và con chiên ngoan đạo, rằng tôi đã chưa từng như thế
và trong tất cả mọi tình huống đều với một sự độc lập hoàn toàn, tôi đã để những
hành động của mình hòa hợp với niềm tin vững chắc. Điều ấy đã chẳng ngăn được
các hội truyền giáo của Đông Dương bộc lộ niềm tôn kính nhất của họ đối với
tôi, cũng như tôi dành cho họ những quan tâm mà họ cần được hưởng. Duy nhất những
người ấy mà họ mới có một đức tin, hoặc đức tin lung lay thì mới có thể không
tôn trọng những tín ngưỡng của người khác. Tôi đã chẳng cần phải cố gắng chút nào
để đảm bảo một sự tôn trọng bình đẳng, một sự tự do hoàn toàn, cho tất cả các
tôn giáo sống cạnh nhau trong quốc gia thuộc địa của chúng ta.
Các
nhà truyền giáo Pháp đã không bao giờ gây lo lắng nào cho tôi. Nhưng không phải
lúc nào cũng như vậy với các nhà truyền giáo Tây Ban Nha, họ có các giáo phận ở
Bắc kỳ. Trong hai lần khác nhau, vào năm 1897, tôi đã gặp phiền muộn trước hoạt
động của họ đối với người bản xứ. Lần thứ hai, tôi đã cho gửi thông điệp đến để
họ biết rằng phải dừng chuyện đó ngay lập tức, nếu không thì phẩm hạnh truyền
giáo của họ, những phép tắc mà họ được hưởng rồi ỉ thế vào đó, sẽ không còn dành
cho họ nữa. Họ là người ngoại quốc, tôi sẽ cho trục xuất họ khỏi lãnh phận,
đúng như tôi có quyền làm điều ấy, mà không hề tôn kính bất kỳ ai. Họ đã
tin chắc như thế, và đã khôn khéo để
không khiến người ta nhắc gì đến họ nữa.
Sau
lễ đón tiếp những người Pháp ở tòa nhà Chính phủ, Tổng thư ký giới thiệu với
tôi những quan viên An Nam, và đứng đầu trong số họ, Kinh Lược sứ hoặc Thái tử
Thái phó. Nhân vật này là một con người thông minh, tao nhã và rất hiểu biết,
ông ta đã chẳng có bất kỳ địa vị gì
trong đất nước này trước khi có sự chinh phục của người Pháp; nhờ chúng ta mà
ông ta đã dạt tới đỉnh cao của vinh dự. Sự nghiệp của ông ấy quá gắn chắc hoàn
toàn với sự nghiệp của chúng ta để ta có thể nghi ngờ lòng trung thành của ông
ta. Ông ta tên là Hoàng Cao Khải, và có quyền đến tước danh Ngài Thượng thư(?), điều mà trong ngôn ngữ của
chúng ta thay thế tên gọi những phẩm tước An Nam và Trung Quốc. Ngài thượng thư Hoàng Cao Khải có một người con trai,
ông Hoàng Trọng Phu, vừa mới hoàn thành khóa học bên Paris, tại trường Thuộc địa;
ông ta nói tiếng Pháp chuẩn, phong thái đàng hoàng và hình như rất có khả năng
một ngày nào đó sẽ trở thành một trong những viên chức cấp cao của chúng ta. Kể
từ đây, tôi cần sử dụng những giúp đỡ của ông ấy và tôi đã luôn luôn rất hài
lòng. Các quan lại làm việc cho Kinh lược sứ thì rất đông; đó là các viên chức
của chính quyền của ông, mà vai trò bao gồm kiểm soát nhân sự An Nam thuộc các
tỉnh, sắp đặt sự nâng bậc và những thuyên chuyển từ tỉnh này sang tỉnh khác,
giám sát dân chúng bản xứ và thông báo trước cho Chính phủ toàn quyền về tất cả
những gì có thể đang được tổ chức ngầm chống đối lại mệnh lệnh nhà nước và sự
đô hộ của Pháp. Trong những quyền hạn của ông, còn có quyền xem xét lại những
phán xét của các tòa án bản xứ chuyển đến. Một trong những văn phòng của Kinh
lược sứ, là phòng bận rộn nhất, đóng vai trò của một tòa án phúc thẩm, nơi nhận
tất cả các vụ kiện về một mối lợi nào đó đã được quan viên các tỉnh phán xét
trong phiên tòa sơ thẩm.
Lễ
đón tiếp kết thúc, đêm đã buông, trời quá tối để tôi có thể nghĩ đến việc đi dạo
quanh Hà Nội, và thế là chuyến thăm viếng của tôi đã được hoãn lại vào hôm sau.
Thành
phố Hà Nội của An Nam rất cổ kính. Nơi đây đã là thủ đô của Bắc kỳ vào thế kỷ
XVII. Người Hà Lan và Bồ Đào Nha đã có những hãng buôn của họ tại đây. Hình như
nó đã không mang cái tên Hà Nội hiện thời (được phát âm là Ha-noye). Tôi nói “cái tên Hà Nội”, và tôi xin giải thích, chữ h phải được phát âm bật ra, theo sự phát
âm của người An Nam, ta phải nói “thành phố Hà Nội”. Nhưng những người Pháp ở
Pháp, vừa kéo đến đất nước này hàng loạt trong những năm gần đây, đã chiến thắng
những người Pháp ở Bắc kỳ, những người bảo quản truyền thống đẹp đẽ cổ xưa; họ
thấy tiện lợi hơn khi không phát âm chữ h.
Và thế đấy, ta có thể nói chữ h của
chúng ta đã trở thành h câm. Những
tai nạn dạng này rất hay xảy đến ở các nước thuộc địa. Người châu Âu, không hề
sợ khiến cho các tên cổ bị què quặt đi, liền sắp xếp chúng cho thích hợp với
ngôn ngữ của họ. Saigon, mới đây thôi, vẫn còn được viết là Saïgon. Dấu hai chấm
trên đầu chữ i đã không còn được phát âm nữa từ lâu rồi; chúng ta đã cho rằng tốt
hơn nên tẩy chay nó khỏi các giấy tờ chính thức. Chẳng bao lâu nó đã biến mất ở
khắp mọi nơi.
Các
văn bản viết của thế kỷ XVII cho thấy Hanoï đã từng có tên là Ke-So (phát âm là
Ké-Cheu), mà hiện giờ ta tìm thấy trên khắp đất nước tại những địa điểm khác
nhau và nó có nghĩa là “chợ lớn”. Liệu
đó có phải là tên thực sự của thành phố không, hay đúng ra là một tên gọi thường
nhật, hệt như cái tên gọi mà chúng ta sử dụng khi luôn luôn chỉ định Paris bằng
từ “Thủ đô”? Không biết được. Điều chắc chắn, đó là cách đây chừng hai hoặc ba
thế kỷ, thành phố nằm xấp xỉ cùng một điểm trên dòng sông như thành phố hiện tại.
Vả lại, ở vị trí này, có vẻ như đã luôn luôn có một thành phố, và những gì người
ta biết về Hà Nội quay ngược lại từ rất xa xưa so với cái tên Ke-So An Nam.
Đúng vậy, người ta đã khám phá trong các cuộc khai quật được tiến hành vào năm
1898 hoặc 1899, trong khu đất cao của thành phố, ở vườn bách thảo, những đổ
nát, những bình lọ, những đồng tiền phản ánh sự tồn tại của một khu thành cổ lớn
vào thời kỳ Trung Quốc chiếm đóng, cách đây chừng mười thế kỷ. Nó mang cái tên
rất hay Dalida (Đại La – ND). Đáng tiếc rằng chúng ta đã không biết điều này sớm
hơn để có thể thay thế nó cho cái tên Hà Nội. Ha-noye không được hay lắm và sẽ còn tồi tệ hơn khi sẽ đến lúc viết
và phát âm thành Hanoi. Dalida ngân
vang một cách hài hòa hơn trong tai người Pháp. Tôi đã phải tự hài lòng tái thiết
lại cái tên cho khu mà những cuộc khai quật đã được tiến hành, ở vườn Bách Thảo,
và ở dinh Chính phủ được xây dựng cách đó không xa; chúng sẽ được gọi là, nếu
như đã không có gì thay đổi từ đó, khu phố, khu vườn, điện Dalida. Cái tên xứng
đáng được lưu giữ.
Khi
tôi sống tại Hà Nội, vào đầu tháng Ba năm 1897, thành phố chỉ quẩn quanh khu hồ
nhỏ (hồ Hoàn Kiếm - ND), nơi ngăn cách thành phố Pháp và thành Phố An Nam.
Chính khu hồ nhỏ đó đã làm lên sự quyến rũ của toàn thành phố. Nó duyên dáng hết
sức, và những ngôi nhà cổ màu trắng, của người An Nam và người Tàu, nằm quanh bờ
phía bắc, đem lại cho nó một đặc tính phương Đông, ấn tượng mặn mà ý nhị. Những
khu An Nam rất kì lạ, với những đường phố hẹp, những ngôi nhà thấp, những cửa
hiệu đầy ứ tràn cả ra đường, người đông nhúc. Tại điểm này mới đích thực là Hà
Nội.
Thành
phố châu Âu chẳng có gì mấy. Một khu phố thương mại dài chừng hai ba trăm mét,
phố Paul-Bert, với những ngôi nhà nhỏ nửa Pháp nửa Tàu, những cửa hiệu vẻ ngoài
sơ sài; không xa nơi đó là một công viên nhỏ bao quanh bốn tòa nhà của chính
quyền, được quân đội Công binh xây dựng, vững chãi nhưng quê kệch, và được sử dụng
làm nơi ở của Tổng thư ký, Ngân khố, Thị chính Hà Nội và các sở bưu điện và cục
điện báo; sau đó, bên bờ sông, xen kẽ giữa những thửa đất trống, là tòa nhà của
Thổng đốc toàn quyền, tòa nhà của Tướng
tổng chỉ huy được cấu thành chủ yếu từ một dãy hành lang mở nối liền hai
cánh sơ sài, những tòa nhà quân sự, bệnh viện, vài ngôi nhà tản mạn trong các
vườn cây um tùm bao quanh và lấn chiếm thành phố, - Hà Nội châu Âu chỉ có vậy.
Những doanh trại, những cửa hàng, những xưởng pháo binh được nằm trong khu
thành cổ, nơi mà người ta đã phá hủy hết hoàn toàn. Tôi đến nơi quá muộn để có
thể cứu vãn những phần thú vị. Đặc biệt là những khuông cửa, chúng xứng đáng được
bảo tồn. Chúng có một đặc tính lớn, góp thêm vào những kỷ niệm lịch sử đã gắn
liền với chúng, để chúng có quyền được chúng ta tôn trọng. Chúng hẳn sẽ khiến
những khu phố tương lai của thành phố đẹp hơn lên, và chắc sẽ không khiến giao
thông vướng víu và ngăn chở khi muốn nắn những con đường chạy thẳng như đã làm ở
Paris, tất cả những quy mô, phạm vi được giữ lại, Khải hoàn môn của quảng trường
Etoile.
Thật
là sai lầm khi đã cho phá hủy đi những khuông cửa thành cổ, chuyện đó là hoàn
toàn chắc chắn. Liệu người ta đã có lí do để phá hủy chính thành Hà Nội, đập những
bức tường thành vững chãi, có thâm niên cả hơn một thế kỷ và xây dựng để kéo
dài vĩnh viễn không? Câu hỏi còn gây bối rối hơn. Bảo tồn thành cổ có lợi nhiều
hơn. Ta hẳn có thể tập trung tất cả những cơ sở quân sự mà một phần đã nằm
trong đó rồi, từ ban tham mưu cho đến các doanh trại và các xưởng. Như vậy các
nơi ấy hẳn sẽ được bảo vệ, trong mọi tình huống, và thành trì chắc sẽ tặng cho dân
chúng Pháp một nơi trú ẩn trong những tình
thế nguy hiểm có thể xảy ra, tuyệt đối là không thể đâu, tôi rất mong muốn
điều ấy, nhưng dẫu sao ta cần phải dự tính trước và rằng một tương lai xa xôi
có thể biến điều ấy thành có thể. Chừng bốn chục năm trước đây người Anh hối lỗi
vì đã phá hủy những bức tường thành cổ ở Ấn Độ, những nơi mà chúng đã có thể cứu
sống cuộc thảm sát nhắm vào rất nhiều những đồng bào họ. Mặt khác, vấn đề phát
triển thành phố Hà Nội không được đặt ra. Giữa thành cổ và dòng sông, cũng như ở
phía trên và phía dưới những bức tường thành thì không còn chỗ cần thiết cho những
tham vọng của một thủ đô, cho dù những tham vọng đó có như thế nào.
Vậy
đấy là những gì lên án sự phá hủy thành cổ. Nhưng một việc duy nhất sẽ chứng thực
điều đó một cách đầy đủ. Liệu có phải những bức tường thành ngăn gió lưu thông
đến mức mà kỳ lưu trú của người châu Âu khi ở trong thành thì sẽ nguy hại và chỉ
nên ở đó sau khi tất cả những công việc về san bằng và nâng cao nền, rút nước
ra ngoài đã được thực hiện không? Nếu chuyện như vậy thì mối bận tâm về sức khỏe
con người là trên hết trong các quốc gia nhiệt đới, nơi có quá nhiều hiểm nguy
đe dọa, không nên tiếc nuối việc đã làm. Các khuông cửa bị biến mất sẽ chỉ là
còn là điều đáng buồn duy nhất cho nghệ thuật và cho lịch sử.
Paul
Bert là vị Công sứ toàn quyền đầu tiên của Bắc kỳ và Trung kỳ, và kỳ lưu trú
quá ngắn ngủi của ông ở Hà Nội đã đủ để ghi dấu ấn cho thành phố về sự có mặt của
ông. Người ta đã muốn kéo dài mãi kỷ niệm ấy, không chỉ đặt tên ông cho một con
phố chính của Hà Nội, mà còn dựng một bức tượng ông đứng đối diện hồ nhỏ. Tác
phẩm ấy, cũng hệt như các tác phẩm dạng này vốn luôn được trang trí một cách sơ
sài. Chí ít ông ấy cũng xứng đáng thu hút sự chú ý lên một trong những đại diện
của nước Pháp, những người đã dâng đời mình cho nền thuộc địa chớm nở của chúng
ta. Armand Rousseau cũng xứng đáng được một sự kính trọng biết ơn như vậy. Những
khó khăn trật tự thứ yếu đã đủ để ngăn cản thực hiện điều này trong những năm gần
đây, mặc dù sự mong mỏi cháy bỏng của tôi để lại cho những người kế nhiệm mình tiếp
tục. Hầu như ngày nào tôi cũng đã mơ cho thực hiện thứ gì đó khác những bức tượng
xấu xí ấy, thường xuyên nực cười, mà người ta dựng lên trước công chúng. Ở Pháp
chúng ta có những nhà điêu khắc đầy tài năng, họ biết thổi hồn sống vào đá cẩm
thạch và đồng... Làm sao ta đã có thể tiến hành để cho thực hiện chừng ấy những
tượng đài xấu xí, đặt không đúng chỗ đến thế, không hề hài hòa với những gì
xung quanh đến thế chứ? Trong một đất nước như Đông Dương, nơi con người có khiếu
thẩm mĩ về cái đẹp, với một đầu óc phê phán rất cao, tôi những muốn làm ra một
tác phẩm đẹp, được đặt đúng chỗ trong khung cảnh của nó. Những dự án đầu tiên
được giới thiệu cho tôi thì không đáp ứng với chương trình này, còn sau đó thì
đã quá muộn rồi. Một trong những tiếc nuối của tôi khi rời Đông Dương là đã
không trả được món nợ của Thuộc địa cho ngài Armand Rousseau.
Sẽ
là khó để so sánh giữa hai thành phố Hà Nội và Sài Gòn, chúng có đặc tính khác
nhau và sẽ chẳng bao giờ giống nhau được. Nhưng sự khác nhau về cảm tưởng, vào
năm 1897, cho thấy rõ nhất là Sài Gòn là một thành phố đã hình thành, ta chỉ việc
hoàn thiện và khiến cho đẹp lên, trong khi Hà Nội là một thành phố mới chỉ được
phác họa, vẫn còn rất nhiều thứ phải
làm.
Vào
thời kỳ diễn ra cuộc chinh phục thuộc địa, người ta đã đánh giá dân số của Hà Nội
với một con số khổng lồ, chắc chắn đã thổi phồng quá đáng, những người này thì
cho là một trăm nghìn dân, những người khác lại nói một trăm năm mươi nghìn. Liệu
phải chăng, giữa các thời kỳ, một phần lớn dân số bản xứ đã khới giá đi về các
ngôi làng nông thôn trong các vùng lân cận không, hoặc là sự thổi phồng quá
đáng của con số sơ khai đã được chỉ định, vả lại chẳng hề dựa trên cơ sở đánh
giá, mà cần phải gán cho sự khác nhau được ghi nhận vào năm 1897 không? Có thể
là cho cả hai. Dù sao cũng vẫn là sự đánh giá của Hội đồng thành phố Hà Nội, được
thực hiện theo các vai trò thuế khóa, mà tôi đã nhận được khi đến nhậm chức, là
chưa đến ba mươi nghìn dân. Sự tăng trưởng của dân chúng Hà Nội, trong năm năm
sắp tới, thì cực kỳ nhanh, kỳ diệu, hệt như sự phát triển cũng hết sức đặc biệt
của thành phố, người ta chứng kiến những khu phố mới mọc lên, trải rộng gấp mười
lần khu phố sơ khai ban đầu, có nước, một hệ thống cống, những xe điện, những
tượng đài xứng tầm của một thủ đô.
Theo
thời kỳ, dòng sông Hồng đe dọa khiến thành phố Hà Nội bị ngập lụt. Dòng chảy của
sông dao động từ bờ này sang bờ kia, trong một khoảng thời gian mà người dân An
Nam nói rằng được ổn định và sẽ là trong mười một năm liền. Khi dòng nước đến
thúc vào bên hữu ngạn, thì nó ngoặm bờ, và do toàn bộ những phần lớn của thành
phố nằm dưới mực nước vào mùa hè, thì nước ập vào những khu này là có thể. Điều
đó sẽ xảy ra nếu như phía thượng nguồn, nơi bờ được đắp cao thành đê, vừa bị những
hoạt động phá hủy của dòng sông đánh vỡ. Chính tại đó mà những cố gắng phòng hộ
đê điều sẽ đem lại kết quả. Bằng những hoạt động đóng cừ và xây móng đá ngầm,
ta khiến nước chảy lệch dòng sao cho ngăn được một cuộc tấn công trực tiếp và
quá dữ dội của đất. Sự đe dọa kéo dài một năm, dài nhất là hai năm; đoạn sông hẹp
sẽ tự dịch chuyển về tả ngạn và chẳng còn gì phải lo ngại cho Hà Nội nữa.
Khi
tấn công thành phố, sông Hồng có ý định tái chinh phục lãnh địa cũ của nó. Hà nội
một phần được xây dựng trên các vùng đất mà sông Hồng bao bọc xưa kia, trong
mùa mưa, chính qua những trận mưa đó, nó tự phác ra một đoạn sông hẹp ở những
nơi nước thấp. Biên độ dao động của chúng khi đó đáng kể hơn nhiều so với ngày
nay. Hồ nhỏ (Hoàn Kiếm), nằm giữa thành phố, hồ lớn (Hồ Tây) nằm ở phía bắc và
sát cạnh vườn Bách Thảo là những phần cổ xưa của lòng sông Hồng. Thành phố cổ,
thành phố Dalila của người Tàu, được nằm ngay bên bờ sông, cũng trải dài trên độ
rộng nhiều kilomet. Người An Nam đã đắp đê ngăn, để lại cho nó một lòng sông
còn rộng chừng một nghìn bảy trăm mét, điều đó chỉ hơi đủ cho nó vào mùa hè mà
thôi. Chính trên nền đất đã kiếm được như vậy mà mọc lên thành phố An Nam nằm dưới
chân thành lũy của thành cổ. Những con đê, mà các nhà chức trách hoàng gia xây
dựng và rất quan tâm bảo dưỡng, đảm bảo con đê chống lại nước dâng ngập bờ và
dòng sông Hồng sẽ có thể quay về được lòng cũ trước đây của nó.
Vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng
Không
phải chỉ có Hà Nội, mà trong toàn thể vùng đồng bằng châu thổ Bắc kỳ đều tồn tại
vấn đề về những con đê. Không có những con đê bao quanh, cùng lúc dòng sông lớn,
những con sông vừa và nhỏ, những con kênh mà nó nối liền các dòng sông với
nhau, một phần lớn của vùng đồng bằng châu thổ hẳn sẽ chìm ngập dưới nước trong
suốt mùa hè. Bảo dưỡng những con đê, gia cố chúng, nâng cao chúng lên nhân các
đợt tấn công đặc biệt dữ dội của dòng nước hoặc của những trận lũ đặc biệt là một
trong những nhiệm vụ cấp thiết của các quan viên vào thời kỳ còn Chính phủ của
Hoàng đế An Nam. Thiếu thận trọng hoặc uể oải trong việc hoàn thành nhiệm vụ sẽ
khiến viên quan đó phải chịu sự trừng phạt rất nghiêm khắc. Ông ta có thể bị
truất quyền chức và thậm chí là cái chết nếu như một con đê mà ông ta đảm trách
chăm nom vừa bị vỡ. Tương tự, bất kỳ mưu hại cá nhân nào có thể xâm hại đến sự
vững chắc an toàn của một con đê đều bị trừng phạt nặng nề đến tận mức chém đầu.
Những người đàn ông lành lặn trong các làng bản đều phải hàng năm đóng góp nhiều
ngày làm việc không công cho hộ đê. Đó là một phần của thứ lao dịch không thể tránh được, thứ lao dịch mà người ta chấp nhận với
ít sự ghê tởm nhất. Dưới chính quyền của chúng ta, mọi thứ đã chẳng thay đổi:
các quan lại vẫn được quán triệt cùng những mối lo toan hệt như vậy. Những người
lao dịch vẫn cùng nhiệm vụ như thế.
Ta
tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu như những con đê kia biến mất, nếu ta tưởng tượng
một ngày nào đó san bằng chúng hoàn toàn. Việc làm ấy sẽ gây thảm họa cho biết
bao các thành phố và làng mạc, vốn đã được hình thành và phát triển dưới sự che
chắn của những con đê, và hẳn sẽ không thể tồn tại được nếu không có những con
đê ấy. Ta không thể sống cùng với mức nước cao đến một hai mét trong nhà mình suốt
sáu tháng trong năm được, trừ phi đã có những chuẩn bị chu đáo, đã xây dựng nơi
ở phù hợp. Nhưng ta không chắc chắn rằng độ màu mỡ của đất, sự sản xuất của Quốc
gia sẽ thụt giảm trước thủy chế sẽ dẫn đến hủy bỏ những con đê. Rất nhiều ý tưởng
đúng đắn, rất nhiều người có năng lực tin rằng là một sai sót của dân bản xứ khi
cho đắp đê sông, phản đối các mùa lũ lụt hàng năm. Dòng sông Hồng đem lại cho Bắc
kỳ những gì mà sông Nil đem lại cho Ai Cập; dòng nước chứa nhiều bùn, chất phù
sa màu mỡ khác hẳn chất màu mỡ mà nước mưa, và điều này đúng, hẳn sẽ cho phép
thực hiện một vụ thu hoạch duy nhất, năng xuất mới tăng cao làm sao với hai vụ
thu hoạch như hiện nay! Ai có lý đây, các nhà bác học lí thuyết hiện nay hay
các bậc tổ tiên đã tin rằng cần phải thực hiện thứ công việc khổng lồ đắp những
con đê chứ? Hẳn sẽ rất khó nói. Hơn nữa, chí ít là vào lúc này, sự thích hơn sẽ
chỉ nằm trong lý thuyết thôi. Những sắp xếp bố trí đã thực hiện, những thói
quen đã ăn sâu, các mối lợi đã được tạo ra và những thứ còn đáng kể hơn nhiều nữa
đang được tạo ra hàng ngày phản đối mọi sự thụt lùi. Một tình trạng vạn vật
khác với điều mà chúng ta đã tìm thấy ở Bắc kỳ có thể sẽ là ưu tiên hơn; điều
này có tính nổi trội hơn tất cả mọi thứ tồn tại.
Về
những hiệu lực màu mỡ của sông Hồng thì không thể phản kháng được, và ta hẳn có
thể lợi dụng điều ấy nhờ sự tưới tiêu, mà không khiến đất nước xáo trộn. Đó là
một việc cần xem xét; nó được định hướng khiến tôi bận tâm nhiều năm và nó sẽ
còn khiến người kế nhiệm tôi tiếp tục bận tâm nữa.
Ngay
đối diện trước Hà Nội, sông Hồng mang một màu vàng pha đỏ nhàn nhạt, mang màu đỏ
hơn ở phía trên hợp lưu của nó với các sông Đà và sông Lô, còn ở Vân Nam mang hẳn
một màu đỏ. Nó có màu đỏ ấy nhờ lớp đất mang nhiều chất sắt mà nó đã ngoặm được
từ sườn dãy núi vùng Vân Nam và giữ lơ lửng dưới dòng nước. Nếu ta lấy một ly
nước từ dòng sông và để cho lắng lại, ta sẽ nhận thấy dần dần chúng tạo thành ở
đáy ly một lớp bùn, lên đến vài xăng ti mét.
Chính
sông Hồng cùng với nhiều nhánh sông khác của Bắc kỳ tạo lên vùng đồng bằng châu
thổ. Tất cả mọi dòng chảy chạy vòng quanh Bắc bộ theo một chức danh nào đó đều
là những vệ tinh của nó. Một số con sông, như sông Cầu và sông Thương, những
con sông có khởi nguồn trong các vùng miền núi Bắc kỳ và tập hợp lại để làm
thành sông Thái Bình, hình như không phải là những chi lưu của sông Hồng. Tuy
nhiên sông Thái Bình chỉ bắt đầu mang dáng vẻ của một con sông lớn khi nó gộp
những dòng nước của mình với dòng nước của sông lớn qua trung gian là kênh Rapides(?).
Sông Cấm, chảy qua Hải Phòng, thì chính nó, thông với sông lớn qua kênh
Bambous. Sông Đáy, bắt đầu từ Sơn Tây, để rồi đổ về Ninh Bình, cũng chỉ là một
nhánh của nó. Những nhánh sông này, những con sông ấy, giao nhau, chảy hòa vào
nhau, tập hợp với nhau bởi hàng trăm con kênh tự nhiên hoặc do chính tay con
người đào. Dòng sông lớn ấy là cha đẻ của tất cả những sông nhánh nhỏ ấy, phần
lớn là nuôi dưỡng tất cả.
Ai
Cập, ta có thể nói thế, là món quà tặng của sông Nil. Vùng đồng bằng châu thổ Bắc
kỳ, cũng hệt thế, là một món quà tặng của sông Hồng.
Những
dòng sông của Bắc kỳ có một độ dốc dễ nhận thấy hơn là những con sông của Nam kỳ.
Nếu như thủy triều khiến ta cảm thấy ở rất xa thì nó lại hành động bằng sự tăng
mạnh của nước sông, nhưng nó không làm cho dòng chảy bị lộn lại. Ngoài ra, nước
dâng cao chỉ xảy ra một lần trong ngày. Giao thông miễn phí của tàu thủy, qua
những đợt nước thủy triều lên xuống, vậy là không tồn tại ở đây. Nhiều đường
hàng hải của người bản xứ với những thuyền bè, thuyền tam bản, thậm chí cả những
tàu sà lúp chạy hơi nước, làm thành một phương tiện khá thuận lợi và giá rẻ để
vận chuyển hàng hóa. Ở miền xuôi đồng bằng châu thổ, mọi thứ vận hành như thế một
cách hoàn hảo. Khi ta đi ngược chút ít lên vùng
cao, số lượng các đường thủy giảm đi. Hơn nữa, giao thông trên trục
chính, đường sông Hồng, thì chậm và bấp bênh. Những chiếc tàu sà lúp với độ mớm
nước ít, chở được ít hàng hóa, bị mắc cạn nhiều lần trước khi đến được Hà Nội.
Không hiếm chuyện chặng đường đi, trên đường bộ chưa đến trăm kilomet, thì phải
đi mất hai ba, thậm chí là bốn ngày. Nếu là vận chuyển hàng hóa nặng, đường
ray, máy móc vân vân... thì ta không thể biết những tai nạn nào đang đợi và khi
nào chúng mới đến đích được. Không khó khăn gì để hiểu những điều bất ngờ như vậy
phải trả giá như thế nào đối với thương mại và ngành công nghiệp. Điều ấy xuất
hiện để ngăn cản chúng và khiến chúng tê liệt.
Ngay
tức thì, người ta nghĩ rằng những công trình đã được dự kiến chắc sẽ phải cải
thiện ngành hàng hải trên sông Hồng. Điều bất hạnh là bất kỳ dự định nào được
thực hiện đều đã không thành công. Một dòng sông lớn chảy trong một lượng nước
như vậy, và kéo theo chừng ấy đất bùn, không để cho con người dễ thao túng nó. Tàu
cuốc, mà người ta đã sử dụng trong nhiều tình huống và trong nhiều chỗ khác
nhau, chẳng đem đến bất kỳ hiệu quả khả dĩ nào. Nếu như, với sự trợ giúp của
nó, người ta hút đi được một dải cát vốn gây phiền toái cho ngành hàng hải, thì
chẳng mấy chốc nó lại tạo ra một dải mới ở bên cạnh, mà chắc chắn những con tàu
gỗ bị mắc cạn trên đó nhiều hơn nữa, bởi vì các thủy thủ lái tàu còn chưa biết
rõ nó. Phía trên Hà Nội, người ta chỉ có thể cho những tàu nhỏ giao thông, với
độ mớm nước rất thấp; những mỏm ngầm hiện diện ở khắp nơi và chúng chỉ cho phép
chạy chậm, nhọc nhằn, đầy những cú giật cục. Trên thượng nguồn còn kinh khủng
hơn nữa, chúng ta thường gặp những ghềnh thác ghềnh đá. Muốn cho nổ tung những
ghềnh đá cản trở và nguy hiểm đó đi ư? Có thể, và người ta đã làm, nhưng ngày
hôm sau thì đã cảm thấy rằng làm việc làm đó là sai lầm. Ta đã bỏ đói khúc sông phía trên, và không còn
đủ lượng nước ở bất kỳ đâu nữa để khiến cho tàu nổi lên. Sông Hồng kêu gọi một
đường xe lửa trên đôi bờ của nó. Đó là cách duy nhất với chúng ta để sử dụng nó
phục vụ cho thương mại.
Vùng
đồng bằng châu thổ bắc bộ có nguồn gốc từ mạn dưới Sơn Tây, nơi mà sông Đáy,
trên bờ phải, sau đó tới kênh Rapides, trên bờ trái, bắt đầu sự phân tán nguồn
nước của nó. Đồng bằng châu thổ là phần duy nhất của Bắc kỳ đông dân cư. Mật độ
rất đáng kể, nhất là trong các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương. Mật
đó ấy đã bị thổi phồng, hệt như những con số thổi phồng đã được đưa ra vào buổi
sơ khai về tổng số dân chúng trong vùng châu thổ. Lượng dân này chắc chắn bao gồm
hơn sáu triệu người. Đó là một con số thú vị, chiểu theo độ trải dài không lớn
của vùng. Người dân ở đây cần cù, thông minh, khéo léo; đất rất màu mỡ. Ấy thế
nhưng vào năm 1897, con người có vẻ khốn khổ. Dưới làn mưa nhẹ lạnh cóng, họ lẩy
bẩy, gần như trần truồng trên đường, được bảo hộ một cách sơ sài bằng một chiếc
áo choàng nhỏ nhoi bện bằng rơm mà họ thường xoay về phía bị mưa dội xuống cơ
thể. Quần áo của họ, thường xuyên chỉ là một chiếc quần cộc dài đến ngang đùi,
được làm bằng thứ vải cô-tông thô có màu giống với màu đất và nước sông. Váy của
những người đàn bà cũng được làm từ cùng một thứ vải. Sự đơn điệu xỉn màu ấy
không nêu lên sự thiếu hụt và nghèo khổ của trang phục. Công việc, trong bùn
trên những cánh đồng, nước ngập đến tận đầu gối, trong mưa phùn và lạnh có vẻ
nhọc nhằn thậm chí nguy hại hơn dưới nắng mặt trời của Nam kỳ.
Cảm
giác mà ta thấy được khi tới Bắc kỳ thật khó chịu; nghèo khó hiện diện ở khắp
nơi, mặc dù đất rất dồi dào màu mỡ; và cũng còn có nạn bất ổn về an ninh. Người
An Nam ở Bắc kỳ nhìn chúng ta với vẻ sợ sệt, có thể nói đó là một con vật bị
đánh và nó luôn luôn hãi hùng cơn bạo lực dữ dội của ông chủ nó. Họ không có được
cặp mắt tin tưởng và tự tin mà sau này tôi được biết và tôi đã được chứng kiến ở
Nam kỳ. Làng mạc thì giống hệt như dân chúng; ta cảm nhận họ lo lắng, sợ hãi.
Những ngôi làng thường được những rặng tre to khỏe và đường hào bao quanh, vẫn
là để bảo vệ. Nạn cướp đã để lại những kỷ niệm quá tàn độc và quá mới để họ tiếp
tục canh giữ chống lại chúng. Họ không canh giữ chống lại người Pháp, nhưng họ rất
sợ; họ vẫn còn bị tổn thất vì đám người ngoại quốc ấy. Những trưng tập lính
khuân vác, coolies, cho các phân đội
quân sự, là những tai họa thực sự đối với các vùng bị ảnh hưởng. Hiếm người đàn
ông đã ra đi như vậy còn quay về được làng mình. Mệt nhọc quá tải, bệnh tật nã
vào họ còn nhiều hơn chúng nã vào chính chúng ta trên vùng cao, những nơi hoang
vắng, cướp đi rất đông người trong số họ, nếu không phải là luôn luôn đưa họ sang
thế giới khác, thì chí ít cũng đến những vùng mà họ chẳng bao giờ trở về.
Người
An Nam ở Bắc kỳ chịu khó lao động, còn hơn cả người Nam kỳ. Họ cao lớn hơn, khỏe
mạnh hơn. Khí hậu thì khá nghiệt ngã; họ không được thiên nhiên ban tặng những
điều kiện thuận tiện cho sản xuất và vận tải. Bị gò bó trong vùng đồng bằng
châu thổ sông Hồng, ở đây họ sống túng thiếu, dân An Nam buộc một vùng đất chật
hẹp phải sản sinh ra rất nhiều sản phẩm. Công việc đồng áng lấy của họ phần lớn
thời gian trong năm. Những vận chuyển giao thông, bảo hộ đê, những công việc khổ
ải thường nhật và đặc biệt lấy gần hết toàn bộ thời gian còn lại. Làm việc
không ngừng và năng động.
Bản
chất khéo léo, tính khí nghệ sỹ của dân tộc này bộc lộ trong các thành phố nơi
hiện diện đông đúc những người thợ thủ công, những sản phẩm đa dạng. Ta tìm thấy
ở đây nhiều ngành nghề, khắp nơi đều như nhau, những thứ đòi hỏi của đời sống của
một dân tộc, quá đỗi sơ đẳng như nền văn minh của họ vốn thế. Đó là những thợ mộc,
thợ làm xanh chảo, thợ rèn, thợ gốm vân vân..., cùng với các tiểu thương, họ
khiến cho các thành phố Bắc kỳ đông đúc thêm. Có một nghề đặc biệt thịnh vượng,
ở đây cũng như ở Trung Quốc, tự trưng ra, bày ra, thu hút khách hàng; đó là sản
xuất quan tài. Điều này không muốn nói rằng người chết ở vùng này nhiều hơn ở
những nơi khác; đó chính là người ta không gắn cho ý tưởng về cái chết một tính
chất ủ rột, mà người ta nghĩ đến nó và nói về nó với sự thanh thản bình tâm;
chính vì vậy ta nhìn mà không phải không cảm thấy thú vị thứ đồ vật vốn được sử
dụng để đặt con người vào đó và đem chôn xuống đất. Cỗ quan tài càng đẹp hơn, bằng
loại gỗ tốt hơn, được sản xuất tinh xảo và có kỹ nghệ hơn thì người sẽ được sử
dụng nó được coi là giàu hơn hoặc người ấy có thị hiếu tinh tế hơn. Nghèo nhất
đến mức có thể và trừ phi là một gã coolie
khốn khổ tha hương vật vờ, quá xa nơi anh ta được sinh ra và xa nơi mà anh ta
luôn luôn hi vọng được chết ở đó, thì người An Nam nào cũng đều có cỗ quan tài
cho mình trước khi cái chết đe đọa họ. Họ mua quan tài ngay khi họ có điều kiện,
thậm chí còn nhận được như một món quà tặng. Nơi các dân tộc vùng Cực-Đông, người
ta tặng một bộ quan tài cho cha mẹ hoặc cho những người thân thích. Kiểu quà tặng
này hẳn sẽ không được người châu Âu đánh giá cao, ngay cả từ người thừa kế tự
nhiên.
Những
thợ đóng quan tài rất đông trong tất cả các thành phố, thì ở Hà Nội họ chiếm hẳn
một con phố và con phố đó mang tên ấy: Phố Hàng Hòm. Một cái tên như thế, nếu
như được đặt ở Pháp, hẳn sẽ đuổi hết những hộ thuê nhà. Không những chỉ người
An Nam không có sự ghê tởm ấy, mà tôi chắc chắn rằng những người Pháp ở Hà Nội
sẽ không đắn đo ở trong phố Hàng Hòm nếu như ở đó xây dựng được những ngôi nhà
tiện nghi. Những định kiến, những kiểu mê tín dị đoan của chúng ta không trụ được
lâu khi chúng ta ở rất xa nơi mà những định kiến ấy đã ăn sâu thâm căn cố đế,
xa những đồng bào của chúng ta để chia sẻ những điều ấy. Một người An Nam ở
Pháp không giữ lâu sự sợ rồng. Một ông Pháp, một bà Pháp đến Đông Dương, nếu họ
mang nỗi e ngại mê tín dành cho con số mười ba và thứ sáu, hệt như vẫn còn tồn tại
rất nhiều người như vậy, đáng buồn thế! thì nên nhanh chóng đánh mất nó đi. Cần
phải có một sự thỏa mãn nào đó đối với môi trường sống để không phải tự đỏ mặt
với chính mình, hoặc cười cợt chuyện đó, khi ta có những ý tưởng như vậy.
Sự
tập hợp các thợ làm việc cùng một nghề trong cùng một con phố, các chủ quầy bán
lẻ của cùng một loại hàng, tồn tại trong các thành phố ở Đông Dương hệt như xưa
kia đã từng tồn tại trong các thành phố ở châu Âu, mà một số nơi đã bảo tồn những
di tích của tình trạng vạn vật này đến thời đại chúng ta. Phố Hàng Vải, Phố
Hàng Lụa, Phố Hàng Đồng, phố Hàng Vôi, phố Hàng Chiếu, và một số khác giống như
thế, là những con phố Đông Dương song hành với các con phố của chúng ta như phố
Boulanger (Làm Bánh), phố Boucher (Hàng Thịt), phố Lombard (Nhà Buôn), phố
Verrerie (Làm Kính), phố Mégisserie (Thuộc Phèn), vân vân...
Các
thợ thủ công Bắc kỳ làm việc chăm chỉ và thuần thục. Họ thành công một cách
đáng ngưỡng mộ trong các công việc đòi hỏi tỉ mỉ và tinh tế. Họ có khiếu thẩm mỹ,
và một số người trong bọn họ là những nghệ nhân thực sự. Những thợ đúc đồng, kim
hoàn, thợ khảm men huyền, thợ thêu, thợ điêu khắc, thợ khảm đã tạo được một tiếng
tăm xứng đáng. Họ không phải là những người thợ bắt chước một nền nghệ thuật
ngoại quốc. Dẫu vẻ bề ngoài của những sản vật lộ rõ sự có họ hàng với những đồ
vật Nhật Bản và Trung quốc, thì chúng vẫn không phải được lấy cảm hứng từ đó;
những người thợ đã tạo ra một nghệ thuật An Nam, với các hình mẫu và sự trang
trí của chính họ.
Những
đồ vật bằng đồng màu vàng họ sản xuất, không phải lúc nào cũng là một bức tranh
đẹp và có cấu tạo hoàn hảo, thì cũng không thiếu tính độc đáo. Xưa kia, những
món đồ gần như được độc quyền dành cho sự tín ngưỡng quốc gia và trong gia đình,
để trang trí các ngôi chùa và bàn thờ tổ tiên. Ngày nay một phần đã tìm đến
khách hàng châu Âu, những đòi hỏi đặc biệt không mang bản chất buộc nhà sản xuất
phải chăm chú hơn đến vẻ đẹp của hình mẫu và trau truốt hơn trong các bức tiến
hành thực thi công việc.
Các
thợ kim hoàn thì ngược lại, hình như họ cải tiến hoàn thiện nghệ thuật của mình
khi làm việc cho khách hàng người Pháp. Thích ứng những hoa văn nổi cao, được cắt
gọt tinh xảo và xoi lọng sâu với những đồ vật bằng bạc cho đồ gia dụng hàng
ngày của chúng ta, đem lại một kết quả ngoài mong đợi và khiến ta hoàn toàn vừa
ý. Nhiều thợ kim hoàn ở Hà Nội chế được rất nhiều đồ đẹp; một trong số họ, tên
là Lê Thân, là một nghệ sỹ tài năng, ông họa hình rất đẹp và thực thi cũng rất
tốt.
Các
thợ may trên lụa làm việc với một kỹ thuật không thể so sánh được. Về mặt chăm
chút và kết thúc công việc, đồ thêu ở Bắc kỳ được làm tốt hơn đồ của Nhật Bản
và Trung Quốc. Nhưng vào năm 1897, các món đồ thêu mang giá trị trang trí còn rất
thấp. Đó là những bức tả lại những cảnh đời sống người An nam hoặc các trận đấu
huyền thoại, với một đám đông những nhân vật nhỏ xíu, đàn súc vật, đồ vật mà ta
có thể ngưỡng mộ các chi tiết, mà tổng thể chẳng có gì đẹp lẫn dễ coi. Kể từ
đó, các thợ thêu An Nam đã hỏi hàn đến hệ thực vật phong phú của mình những
nhân tố cho việc cấu thành tác phẩm của họ. Họ đã thành công đem lại cho những
bức hoành bằng lụa thêu một hiệu ứng trang trí xứng tầm của người Nhật Bản, và
họ đã chẳng mất gì về trình độ nghề nghiệp nổi trội hẳn của họ.
Đồ
đạc gia dụng An Nam mà những nhà điêu khắc chế tạo, và chúng bao gồm chủ yếu là
ghế tựa, bàn và tủ chè, đẹp về đường nét và hoa văn. Các bộ trường kỷ, món đồ
trang trí trong những ngôi nhà đặc thù và các ngôi chùa, hầu như đều mang tất cả
những nét cân xứng hài hòa; các hình điêu khắc trang trí trên đó thì đơn giản
và thường xuyên rất đẹp. Nhưng sự thành công rực rỡ của người An Nam là trong
ngành khảm trai trên gỗ. Họ đã khiến cho những bộ tủ chè và những đồ gỗ nhỏ gia
dụng khảm trai như vậy ở vùng Cực-Đông trở nên thực sự đáng chú ý và nên hưởng
thụ, món đồ này đã nổi danh đình đám. Những thợ khảm trai Trung Quốc, những người
hình như đã dạy nghệ thuật của họ cho dân An Nam thì còn lâu mới sánh ngang
hàng được với học trò của mình.
Khảm
trai của Bắc kỳ được thực hiện trên gỗ tốt, loại được gọi là “gỗ sắt” và người
ta đặt tên cho nó là gỗ trắc. Đó là loại gỗ tiêu biểu nhất của những đồ gia dụng
và đồ mỹ nghệ hạng sang. Đó là thứ gỗ rất được tìm kiếm, và sự khai thác dữ dội
mà người thợ đã thực hiện khiến nó trở nên hiếm hoi và rất đắt. Độ dày đặc của
nó không có gì đặc biệt trong một xứ sở mà hầu như chẳng có thứ gỗ nào nổi được:
phần lớn chìm dưới đáy nước, và neo thuyền bằng gỗ, điều có vẻ hơi kì cục đối với
người châu Âu. Gỗ trắc là một loại có thớ rất chặt, một độ cứng điển hình, điều
đó ngăn cho côn trùng khỏi tấn công nó, mà ở Đông Dương, ít gỗ có thể kháng cự
được lũ côn trùng này. Độ ẩm cũng kém tác động lên gỗ trắc. Màu đỏ đậm có các
đường vân màu tím, hoặc màu đen với các đường vân đỏ phai, tùy theo từng chủng
loại khác nhau, rất vui mắt. Dụng cụ của thợ đóng đồ gỗ quý và thợ mộc Pháp sẽ
bị cùn trên gỗ trắc. Người An Nam thì ngược lại, họ điều khiển được nó để dễ
làm việc, về mặt này họ ít khi làm hỏng các loại gỗ bản xứ. Phần còn lại, họ là
những thợ mộc sơ đẳng; công việc chỉnh sửa lắp ráp đồ gỗ của họ chưa hoàn hảo mấy,
nhất là bên trong các đồ vật và trong những phần mà ta không nhìn thấy được.
Trường Động sản Pháp, vào những thời kỳ thịnh vượng nhất, đã phạm những chểnh mảng
này. Điều đó không ngăn trường ấy đã sản xuất những món đồ tuyệt vời. Thông thường
đồ gia dụng An Nam được khảm trai có những cân đối dễ chịu và rất mộc mạc. Đồ
khảm trai của họ, tác phẩm của kiên nhẫn và nghệ thuật, mang những ánh vàng và
tím, đem lại cho chúng một vẻ phong phú đặc biệt về trang trí. Đồ mỹ nghệ khảm
trai, các loại khay với kiểu dáng khác nhau, văn phòng, giương, bàn viết, ống
hút thuốc lào (điếu cày – ND), đôi khi là những kiệt tác nho nhỏ mà chắc chắn sẽ
không khiến bất kỳ phòng khách Paris nào xấu đi.
Những
thợ khảm trai An Nam, chí ít là những thợ giỏi, hầu như đều ở tập trung vào hai
thành phố của Bắc kỳ, Hà Nội và Nam Định, hai thủ phủ. Có một sự khác nhau
trong các sản phẩm giữa hai trung tâm. Những mảnh trai Hà Nội nhỏ mịn hơn; khảm
trai được thực hiện bằng vô vàn những mảnh nhỏ xíu. Điều này cũng không ngăn được
những tay chơi sành điệu thích sản phẩm của Nam Định hơn, khi mà rất nhiều người
thì ngược lại, gắn bó với những món đồ của Hà Nội.
Mặc
dù kình địch nhau trong nghề thêu giữa Hà Nội và Bạch Ninh (Bắc Ninh?). Mặc dù sự tập trung các thợ thủ công
nghệ thuật tại thủ đô dần dần tăng lên, Bạch Ninh có một tay nghề thêu nổi tiếng
chiếm giữ rất đông thợ, họ ở lại ngay thành phố của mình và thu hút khách hàng
về đó. Các quý bà Pháp ngày nay đi du lịch, điều mà các bà chắc đã không làm một
cách dễ dàng như thế và với sự an toàn như vậy vào năm 1897, để xem tay thợ
lành nghề nổi tiếng và đặt hàng ở xưởng của họ.
Bạch
Ninh cũng còn có những thợ khảm men huyền, hầu hết những thợ khảm men huyền của
Bắc kỳ đều ở đây, họ khảm những lá bạc hoặc một thứ hợp kim khác nhau lên đồ đồng
làm thành một lớp hoen rất đẹp màu nâu sáng. Họ cũng làm những chiếc khay có
kích thước và hình dáng đa dạng. Những chiếc lồng ấp tay, những lư hương và nhiều
đồ vật khác mang dáng hình dễ coi mà không
hẳn có giá trị thẩm mỹ cao.
Nếu
các ngành nghề nghệ thuật được tập trung trong ba bốn thành phố ở Bắc kỳ, thì
khắp các tỉnh thành đều có các thợ thủ công mà công việc của họ xứng đáng thu
hút sự quan tâm của chúng ta. Sự thuần thục của bàn tay, thị hiếu bẩm sinh của
giống nòi cho phép tuyển mộ thợ làm việc thoải mái và ở bất kỳ nơi nào, vào
ngày mà các đồ mỹ nghệ Bắc kỳ cung ứng cho ngành thương mại xuất khẩu.
Thành
phố sản xuất của Bắc kỳ, như một thành phố bản xứ, ít ra cũng thú vị như Hà Nội,
là Nam Định. Có vị trí nằm ngay trung tâm vùng giàu có nhất và đông dân nhất của
đồng bằng châu thổ, Nam Định có một lượng dân số chừng ba mươi nghìn người, bao
gồm tiểu thương và công nhân. Đó là một cái tổ ong đang giờ làm việc cao điểm, ồn
ào và náo loạn. Đó cũng là một thành phố quan lại và trí thức, một thủ phủ; vào
thời kỳ diễn ra cuộc chinh phục của chúng ta, nó tranh chấp thứ hạng với Hà Nội.
Nó chắc chắn có những ưu đãi hơn của triều đình Huế, nơi mà họ không còn cảm thấy
là nhà mình nữa, hệt như xưa kia, trong thời Đại La cổ xưa. Từ nhiều năm nay, ở
Hà Nội, người Pháp đã có một trại lính đồn trú, trại này yếu, và điều đó là
đúng, nhưng sự có mặt của trại lính đồn trú ấy gây phiền toái và lo ngại. Những
băng đảng Trung Quốc không còn cầm chân ở biên giới nữa; chúng xâm chiếm một phần
lớn vùng cao và thực hiện những vụ đột nhập nhanh gọn đến tận vùng lân cận Hà Nội.
Thành phố này chắc còn chưa bị lật đổ nhờ sự tồn tại của bức thành cổ đẹp và rộng
mênh mông, có dáng vẻ và phạm vi thực sự hoàng gia.
Thành
Nam Định, mặc dù trải rất rộng, vẫn không thể so sánh được. Nó nổi tiếng với một
danh phận khác. Dưới chân các bức tường thành của nó có trại dành cho các nhà
nho, nơi đã diễn ra và hiện giờ vẫn diễn ra một sự kiện đại học theo kỳ, những
kỳ thi để đạt được những cấp bậc Cử nhân
và Tú tài, nói cách khác là bằng đại
học và bằng tốt nghiệp phổ thông trung học. Chỉ ở Huế người ta mới thực hiện học
vị đốc tờ, hoặc Tiến sỹ.
Những
kỳ thi ở Nam Định diễn ra ba năm một lần, kỳ thi mang một tầm quan trọng đáng kể
và được diễn ra trong một nghi lễ xã giao oai nghiêm mà tính chất cổ vùng Cực
Đông mang đầy sự thú vị của nó. Tôi đã đứng chủ trì hai lần, năm 1897 và năm
1900, vào buổi khai mạc những kỳ thi này và lễ bế mạc khi kết thúc. Hơn mười
nghìn thí sinh tham gia, đến từ tất cả các vùng của Bắc kỳ trong khi tổng thể
chỉ có ba trăm tấm bằng được cấp. Các thí sinh tới Nam Định vài ngày trước kỳ
thi, được một tên đầy tớ tháp tùng, và thường xuyên là mấy thành viên gia đình
đi cùng. Người ta đánh giá sự náo động, xáo trộn mà kỳ thi gây ra ở Nam Định,
nơi mà dân chúng đột nhiên bị tăng lên gấp đôi.
Năm
1897, kỳ thi ba năm một lần đó đã diễn ra trong một thời điểm tương đối khó
khăn, sau những toan tính nổi loạn, đã nhanh chóng được dẹp yên ngay, của đám người
cuồng trí ủng hộ một kẻ tự xưng được gọi là “đứa con thần diệu”, Kỳ Đồng. Trong
số các nhà nho tập hợp ở Nam Định, đám đông các thí sinh và còn cha mẹ và những
tên đầy tớ của họ nữa, nên sự xôn xao náo động đã phải rất dữ dội. Chính tại
các nhà nho ấy, trước đây là những ông chủ của quốc gia mà nhờ đó họ sống rất
vương giả, nên sự chế ngự của chúng ta gặp phải đối thủ nhiều nhất.
Nhân
vật Kỳ Đồng kia kéo theo sau hắn một đám đông các nhà nho không việc làm. Vậy
có thể dự báo rằng tinh thần họ hẳn sẽ được hâm nóng dữ dội ở Nam Định và trong
những cuộc đối thoại và những cuộc họp kín, họ chắc soạn ra nhiều các dự án nổi
dậy, cái nào cũng vừa ngây thơ lại vừa ảo tưởng. Nhưng rất nhiều người Pháp và
một số quan viên bộc lộ một nỗi e ngại thực sự. Họ đảm bảo rằng những người kia
có lẽ sẽ không bỏ qua việc chuyển từ lời nói sang hành động, rằng ba hoặc bốn
chục nghìn người tập hợp lại, ai nấy đều được huy động, đến nhập cùng với dân
chúng thành phố, sẽ tạo thành một đoàn quân nổi dậy nguy hiểm. Tất cả đều được
cân đong đo đếm và ghi nhận tình trạng tinh thần của người dân ở Nam Định, bản
chất của các nhà nho, điều không thể xảy ra cho đám đông không có tổ chức và
không có các thủ lĩnh để hòa hợp ý kiến và trang bị vũ khí, tôi đã không cho rằng
có điều gì đáng lo ngại cả, thậm chí là chẳng có gì nghiêm túc hết. Dẫu sao
cũng cho thực hiện vài sự đề phòng. Quá bất lực như những kẻ xúi giục bạo động,
thì tốt hơn là cảnh báo và làm nhụt chí họ, tuy nhiên không làm gì, điều vốn giống
như một sự thiếu tin tưởng trong dân chúng Nam Định và những khách mời của họ
và điều ấy có thể gây ra những hoảng sợ trong họ khi kích thích nỗi lo ngại bạo
lực và những sự kiện đẫm máu. Chúng tôi đành lòng hết sức công khai tung ra những
chuẩn bị cho lễ đón tiếp long trọng, chuyện này phải được thực hiện khi tôi đến
để dự lễ khai mạc kỳ thi. Các đội được chuẩn bị để bồng súng chào vào vị trí
cùng lúc với những thí sinh đầu tiên và gia đình họ cập bến thành phố. Hai pháo
hạm sông, tàu Avalanche và tàu Jacquin, phải góp phần gây tiếng vang
cho buổi lễ; hai tàu đó đã thả neo ngay trước mặt thành phố Nam Định từ hơn một
tuần trước khi diễn ra sự kiện vốn được chờ đợi ấy. Toàn bộ lực lượng sức mạnh ấy
đủ để tạo ra cảm giác mong muốn.
Các
thí sinh đến Nam Định trước đó nhiều ngày, họ tận dụng để lấy chỗ và ổn định
nơi ở trong trại các nhà nho. Người ta cho họ khoảnh đất trống và chẳng có gì
thêm nữa. Họ phải tự lo liệu để sống và làm việc trong nhiều ngày liền ở đó. Họ
dựng lên, hay chính xác là người ta dựng lên cho họ, - bởi với tư cách muốn trở
thành nhà nho của họ, họ chẳng đụng tay vào bất cứ cái gì hết, - một kiểu lều
tăng nhỏ xíu bằng chiếu và rơm. Ta có thể ngồi trong đó, nằm hoặc quỳ, nhưng đứng
thẳng thì không. Trong lều có vài tấm chiếu, chăn, bút lông, mực, giấy và một
cái bếp nhỏ, vài dụng cụ để nấu nướng thức ăn, để pha trà mà dân ở đây dùng bất
kỳ giờ nào trong ngày. Trong căn lều nhỏ tẹo và bừa bộn ấy, chừng một mét vuông
nền đất thì có thí sinh dự thi và tên đầy tớ của anh ta ở. Người đầy tớ này thường
xuyên là họ hàng hoặc hàng xóm tự nguyện đi phục vụ thí sinh khi anh ta không đủ
giàu để trả tiền công thuê một gia nhân. Trong trường hợp vinh quy bái tổ, vinh
dự sẽ tưới lên gia đình và cả làng anh ta là khá lớn để người đầy tớ tự nguyện
kia sẽ nhận được tiền lương của mình.
Khi
tôi đến Nam Định để dự lễ khai mạc trọng thể, đám đông chen lấn trên bến cảng rất
đông. Trạng thái tinh thần họ chẳng có gì ngoài sự thái bình. Vả lại, loạt súng
mà các pháo hạm nổ chào đón tôi với nòng pháo mạnh mẽ 90 của chúng, câu trả lời
của loạt tàu có trang bị những khẩu súng lục giống như đám người tháp tùng và
chính tôi cũng đeo trên người, khiến cho những kẻ thích phá rối cần nghe những
lời khuyên thận trọng. Những đề phòng đã được chuẩn bị theo tôi là thừa; tất cả
diễn ra hết sức hoàn hảo và tất cả có thể hẳn sẽ diễn ra tốt đẹp mà không cần đến
chúng. Nhưng ai mà biết được chứ? Cảnh báo vẫn tốt hơn là phải đàn áp, chứng tỏ
sức mạnh đúng lúc để không buộc phải sử dụng chúng.
Ban
giám khảo ở Nam Định là những nhân vật quan trọng, được chính Bộ trưởng Nghi thức
của Vua An Nam chỉ định và từ Huế ra đảm đương sự vụ này. Họ thực thi chức phận
của mình với sự trang trọng và nghiêm khắc tối thượng, và cũng với ý thức rất
cao, hình như thế. Không có gì cho phép tin rằng có sự ưu ái trong những phán
xét mà họ nhắm đến các thí sinh cả. Tôi đã chứng kiến con trai của các viên
quan quyền thế, mà bài thi của họ tốt, nhưng bị từ chối một cách không thương
tiếc bởi vì họ thiếu vài điểm, trong khi những con nhà nông dân nghèo không chỗ
dựa, bài của họ hơn không đáng kể, thì lại đỗ.
Các
thí sinh đã vào vị trí khi lễ khai mạc cuộc thi bắt đầu; họ đợi được phát đề
thi đầu tiên, trong lúc chuẩn bị mực và bút lông. Trại các nhà nho nơi họ tập
trung, nhìn rất kì cục. Cả mười hoặc mười hai ngàn chiếc lểu nhỏ xíu, đặt san
sát vào nhau, cạnh đó, chỗ này chỗ kia có một thằng hầu nhàn rỗi hoặc một nho
sinh tò mò hơn hay bồn chồn hơn các đồng môn của mình, tạo thành một trong những
hợp thể kì cục nhất. Ở đó có sự đồng bộ của một doanh trại quân đội, nhưng
không có cuộc sống, không sôi động. Đó là cái gì đó nhỏ mọn, lặng lẽ, cô đặc hệt
như thế giới Á châu già nua mà hiện thời biến mất khỏi sự tiếp xúc với nền văn
minh của chúng ta. Nếu ta theo những lối đi hẹp giữa các lều, ta liếc nhìn vào
bên trong nhỏ tẹo mà các vị quan viên mở ra bằng cách nhấc tấm mành cửa, vốn đã
được đóng kín, ta nhìn thấy nho sinh đang ngồi phủ phục, xung quanh là những dụng
cụ hố lốn của học sinh, những thỏi mực, những cốc nhỏ, những ống sơn mài hoặc lọ
sành đựng bút lông, một chồng giấy viết bản xứ... họ mài mực và cố gắng nắn nót
thảo chữ, đúc chữ, mà vẻ đẹp của hình dáng trong bài viết có thể sẽ khoe trương
văn phong của chữ viết.
Thằng
hầu đang nằm không xa đó, gà gật, sẵn sàng đáp lại khi bất cứ có ai gọi; hoặc
nó pha trà, trà sẽ trợ lực thí sinh trong khoảng thời gian làm bài rất dài, và
anh ta sẽ uống trà trong suốt cả ngày.
Các
thí sinh cấp độ đại học phải qua một kỳ chuẩn bị dài. Hiếm khi họ đậu ngay
trong những kỳ thi đầu tiên, và một số trong họ đã dự thi đến mười hoặc mười
lăm lần liền. Những thí sinh ấy không còn trẻ nữa, bởi ba năm mới có một lần
thi. Ta thấy có những thí sinh tuổi đời đã ngũ lục tuần; nhưng đa số tầm từ hai
mươi đến ba mươi tuổi. Đúng vậy, rất nhiều người trong số họ không nhẫn nhục
làm nho sinh suốt đời, và do không đạt được một bằng cấp mà nó vốn tạo điều kiện
cho họ tiến vào giới quan viên, họ chấp nhận một thứ công việc cấp dưới.
Kỳ
thi bao gồm các bài thi liên tiếp, mà tất cả đều là đấu loại. Số học sinh vậy
là giảm dần cho đến khi kỳ thi cuối cùng đến gần. Thí sinh được thuận cho một
khoảng thời gian khá dài để phát triển chủ đề văn chương và triết học được trao
cho anh ta, và chủ đề mà trí nhớ của anh ta sẽ đóng vai trò quan trọng nhất.
Lúc đầu, với khoảng thời gian cần thiết để chấm hơn mười ngàn bài thi, rồi đến
các bài của kỳ thi kế tiếp, không nhiều bằng nhưng nghiêm túc hơn và dài hơn,
ta nhận thấy rằng kỳ thi đó kéo dài nhiều tuần liền.
Người
ta đã ấn định trước số lượng bằng licencié (Cử
Nhân) và bachelier (Tú Tài) sẽ được trao. Chính Thống sứ là người quyết định,
dựa trên những đề cử của các quan viên và sau khi đã thảo luận với Thống đốc
toàn quyền, trong trường hợp người ấy quan tâm đến vấn đề này. Số lượng thay đổi
rất ít trong các kỳ thi. Có chừng từ năm mươi đến sáu mươi bằng Cử Nhân, hai
trăm năm mươi đến ba trăm cho Tú Tài. Điều này cho thấy tỷ lệ đậu là một trên
ba mươi hoặc một trên bốn mươi. Số thí sinh đậu đúng là không nhiều; nhưng thế
là tương đối đủ, nếu không nói là quá nhiều cho số lượng việc làm mà chính quyền
bản xứ có thể trao. Thành công của những thí sinh thi đậu được gia đình và cả
làng ăn mừng; mọi người rất lấy làm tự hào và phô trương ầm ĩ niềm vui của họ.
Nhưng
vinh dự mà một nhà nho đem lại cho gia đình không ngăn được việc ông ta là gánh
nặng cho cả gia đình khi không hoàn thành bất kỳ một chức trách nào đã được
trao cho ông ta. Quá nghèo như ông ta, nhà nho không đụng tay vào bất kỳ việc
gì; phẩm hạnh của ông ta không cho phép làm những việc đó. Và với những ai còn
chưa biết rằng ông ta chẳng biết tí gì về những công việc chân tay, thì nên biết
thêm rằng ông ta để móng tay mọc dài quá độ. Độ dài của những móng tay có khi đến
vài xăng ti mét. Nhà nho có móng tay dài như vậy thậm chí còn không thể tự mặc
quần áo cho mình; ông ta luôn luôn cần một thằng hầu bên cạnh. Các quan viên lớn
hay nhỏ đều chẳng gặp bất kỳ khó nhọc gì để được phục vụ; họ dễ dàng có nhiều
gia nhân mà tiền công không đáng kể. Các nhà nho thất nghiệp và không gia sản
không có cùng những điều kiện thuận lợi ấy. Dẫu vậy, họ vẫn giữ thói thảnh thơi
của mình như là một thứ ưu tiên thuộc đẳng cấp, nhưng họ khổ sở vì chuyện ấy,
tinh thần họ trở nên bức bối; họ phê phán, họ đả kích, kích động những người
xung quanh họ, mà chính mình thì không tài nào tự hành động được. Đó là những kẻ
thù được sinh ra trong mọi chính phủ mà chính phủ ấy lại không sử dụng họ. Thế
nên cần tránh tạo ra quá nhiều nhà nho, cần tránh phát số lượng bằng cấp ngoài
tỷ lệ với những công việc mà chúng ta có.
Những
Cử nhân và Tú tài ở Nam Định tiến hành chính xác cùng các bài thi; không có hai
chương trình thi. Chính những thí sinh đỗ đầu tiên, những thí sinh đã đạt được
nhiều điểm nhất, được nhận bằng Cử nhân. Các thí sinh sau đó lần lượt nhận bằng
Tú tài; nếu họ muốn có được bằng Cử nhân, thì ba năm sau họ lại phải tham gia
cuộc thi tương tự. Dẫu kết quả có thế nào, dẫu kết quả lần sau kém hơn lần trước
thì họ vẫn được bảo tồn thứ bằng cấp mà họ đã đạt được. Lễ bế mạc kỳ thi quả là
thú vị và kỳ cục. Các thành viên ban giám khảo, trong trang phục quan viên trịnh
trọng, ngồi vắt vẻo trên những chiếc ghế đặt nhô cao khỏi mặt đất đến hơn hai
mét, họ rất chật vật để leo lên do vận những bộ áo dài truyền thống lụng thụng,
vạt đai lưng to còn đôi giày xăng đan của
họ thì rộng quá khổ. Nghi lễ muốn họ phải được ngồi như vậy, từ đầu này đến đầu
kia lối đi mà những thí sinh trúng tuyển sẽ đi theo. Sự tuyên bố các tên thí sinh
trúng tuyển được thực hiện trên một khán đài cũng được dựng hệt như các ghế của
ban giám khảo. Một ông quan đọc tên của thí sinh trúng tuyển, tỉnh lỵ nơi người
ấy xuất thân, và một quan tuyên cáo trong trang phục nghi lễ đỏ, cầm một chiếc
loa phóng thanh dài, nhắc lại những lời của vị quan nọ theo tất cả các hướng.
Trong lúc các thí sinh bất hạnh lần lượt tản đi, các thí sinh chỉ bị loại ở đợt
thi sau cùng, những người trúng tuyển tập hợp lại và lễ phát bằng bắt đầu. Mỗi
một Cử nhân hoặc Tú tài, ngoài tấm bằng còn nhận được một bộ trang phục nghi lễ,
có hình dáng giống như của các quan viên nhưng khiêm tốn hơn và có màu xanh lam
đậm đồng nhất. Khi Thống đốc chủ trì buổi nghi lễ, thì ông ấy cho thêm quà, thường
là những chiếc đồng hồ vàng và bạc, giá tiền đồng hồ dành cho Cử nhân thì cao
hơn chút đỉnh.
Năm
1900, người đỗ đầu bảng là một thanh niên trẻ hai hai hoặc hai ba tuổi, có vẻ mặt
thông minh; anh ta xuất thân từ một gia đình nông dân không dư dả lắm! Tôi đã
ngay lập tức nhận anh ta, với tư cách là nhà
nho, về làm việc ở dinh Chính phủ toàn quyền, mặc dù anh ta không ở trong
khả năng có thể phục vụ những công việc quan trọng. Hơn nữa, phải dành cho anh
ta toàn bộ thời gian cần thiết, và tạo cho anh ta tất cả những điều kiện dễ
dàng để tiếp tục theo học, chuẩn bị cho kỳ thi tiến sỹ và học tiếng Pháp. Đến ở
tại Hà Nội, thi thoảng anh ta tới thăm tôi, được thư ký An Nam của tôi tháp
tùng để làm phiên dịch. Ngay cả khi anh ta đã biết chút ít tiếng Pháp, tính
cách rụt rè ngăn anh ta nói chuyện trực tiếp với tôi. Sau chừng một năm sống ở
Hà Nội, anh ta đề nghị được đi Huế, nhằm có sự chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi tiến
sỹ. Đề nghị ấy đã được chấp thuận, và anh ta vẫn được lưu giữ chức danh nhà nho
của Chính phủ và số lương bổng khiêm tốn được dành cho anh ta. Chuyện đó chắc sẽ
cho phép anh ta có tư thế tốt hơn phần lớn các sinh viên khác ở Thủ Đô Huế. Tôi
đã gặp lại anh ta ít lâu trước chuyến khởi hành, vẫn luôn luôn rụt rè và khiêm
nhường, nhưng cặp mắt và tia nhìn tràn đầy sự hàm ơn và trìu mến. Những con người
An Nam nhỏ bé tuyệt vời ấy quyến luyến thực sự với những ai đối sử dịu dàng với
họ và chứng tỏ cho họ thấy sự cảm mến của mình dành cho họ.
Sau
nghi lễ phát những phần thưởng mà tôi chủ trì; các tân Cử nhân lẫn Tú tài đề
nghị được chào tôi, chắc chắn là dưới sự xui bảo của các thành viên ban giám khảo.
Họ vận trang phục nghi lễ vừa được trao tặng mà thực ra thì chúng chẳng lấy gì
làm duyên dáng cả. Đứng đồng hàng loạt thì còn tạm coi được. Những chiếc mũ cứng
hình mũ casque, những bộ áo dài truyền thống màu xanh được may bằng thứ vải nhẹ,
đôi giày đế phớt cao buộc họ phải đi thật chậm và rất khó khăn, làm thành một đồng
phục tàm tạm, với điều kiện nhìn họ tề tựu thành hàng, được các thành viên ban
giám khảo trong bộ áo dài máu sáng điểm những lá vàng đứng bao quanh. Nghi lễ
buộc họ phải tiến hành bốn lần cúi sụp vái chào, trán chạm đất; và phải tuân thủ
nghi lễ. Vài lời chúc mừng và cổ vũ phục vụ tốt đất nước họ và nước Pháp, - đất
nước mà giờ đây những mối quan tâm lợi ích và tương lai gắn bó chặt chẽ với họ,
- kết thúc buổi lễ.
Nam
Định không thể so sánh được với bất kỳ đâu; hầu hết tất cả các thành phố ở Bắc
kỳ đều giống nhau: một thành trì giống như kiểu thành trì Vauban, được xây dựng
vững vàng với các tường thành kiên cố, với một tháp canh cao nằm ở giữa chế ngự
và giám sát toàn bộ khu vực, nơi ở của các quan viên và quân lính nằm trong
thành trì và bên ngoài các bức tường thành, tập hợp dưới sự bảo vệ của họ là
các ngôi nhà của dân chúng, tiểu thương, thợ thủ công, công nhân, cu-li. Trước
khuôn mẫu cổ điển của thành phố Bắc kỳ này, chúng ta đã thực hiện một vài chỉnh
sửa. Nếu như các thành trì đã không bị phá hủy ở khắp nơi, thì cơ quan công quyền
đã ra khỏi đó. Ngài Công sứ Pháp, người vốn cần không khí hơn là cần sự bảo vệ,
đã cho xây nhà mình và các phòng làm việc bên ngoài các bức tường. Nơi ở của
Công sứ ngoài Bắc kỳ, kém phần xa hoa hơn dinh thự của ngài Tổng thanh tra ở
Nam kỳ, thì tuy nhiên nói chung là rộng lớn và đủ tiện nghi. Đó là trường hợp của
hầu hết các nơi nằm trên địa phận đồng bằng châu thổ, chúng đã được xây dựng từ
năm 1896. Nơi ở của người đại diện Chính phủ được chuẩn bị chu đáo đầy đủ, như
vốn phải thế. Còn về phần bản chất kiến trúc của tòa nhà thì tốt hơn không nên
nói đến nó. Các kiến trúc sư của chúng ta đã không tìm lại được thị hiếu tốt ở
Bắc kỳ, vẻ đẹp của các đường nét và sự cân đối hình như đã đào ngũ khỏi chính
quốc những năm gần đây.
Tổ
chức của chế độ Bảo hộ
Năm
1897, Chính phủ của chúng ta ở Bắc kỳ đã và vẫn được coi là một chế độ Bảo hộ.
Từ
này chả nói lên điều gì to tát, bởi Bảo hộ thì cũng có năm bảy đường. Bởi sự định
nghĩa cũ kỹ về thể loại chế ngự của một dân tộc này lên một dân tộc khác không
còn được áp dụng cho bất kỳ chế độ Bảo hộ còn tồn tại cho đến ngày nay trên thế
giới. Trường học thường nói một quốc gia “bảo vệ” một quốc gia khác yếu hơn và
kém văn minh hơn, khi nó đảm bảo cho quốc gia ấy sự an ninh đối ngoại, về mặt
quân sự và chính trị, thay mặt quốc gia ấy trong các mối quan hệ với các cường
quốc nước ngoài, nhưng để cho Chính phủ của họ được độc lập đối nội. Chính rõ
ràng như thế mà một số các chế độ Bảo hộ bắt đầu thực hành, nhưng không thể có
chuyện Quốc gia bá chủ để cho những chuyện ấy kéo dài lâu trong tình trạng này.
Quốc gia bá quyền sẽ chỉ làm điều đó trong trường hợp cực hiếm khi mà mục đích
duy nhất của sự can thiệp của mình sẽ có thể ngăn chặn bàn tay chiếm lấy của một
quốc gia khác lên dân tộc được bảo vệ. Nếu quốc gia bá chủ có ý muốn khai thác,
theo nghĩa lớn hơn của từ này, đất nước mà họ bảo hộ, giúp dân chúng nước này tận
dụng được một nền văn minh tiên tiến hơn và chính họ cũng rút ra được một nguồn
lợi bù lại cho những hi sinh tổn thất mà sự bảo hộ gây ra, thì họ cần phải dần
can thiệp vào những sự vụ quốc nội. Trên thực tế, họ đạt đến quyền lãnh đạo, nhân
danh chính phủ bản địa và thậm chí họ còn điều hành quốc gia. Người ta đã có
thói quen lưu giữ cái tên Bảo hộ chừng nào mà ta còn chưa đạt đến quyền quản lý
dân chúng trực tiếp.
Bắc
kỳ đang ở điểm giới hạn chia tách với chế độ Bảo hộ của Chính phủ thuộc địa. Họ
không còn bảo giữ tình trạng mọi sự mà chúng ta đã tìm ra, rằng sự trung gian của
các quan viên để quản lý dân chúng bản xứ trong các tỉnh thành.
Cuộc
chinh phục đã đòi hỏi quá nhiều cố gắng và quá nhiều thời gian để sự tổ chức An
Nam đã có thể tồn tại. Ngay từ đầu, chúng ta đã cắt đứt các mối liên hệ nối liền
Bắc kỳ với Chính phủ của Vua An Nam. Nhân tố đầu tiên và quan trọng của chế độ
Bảo hộ cổ điển ở điểm này thậm chí đã bị hỏng; không có Chính phủ bản xứ để ta
có thể để chăm sóc việc quản lý hoặc khiến cho dân chúng chịu trách nhiệm trước
những biện pháp mà chúng ta sẽ quyết định hoặc sẽ đưa ra. Nhưng do chúng ta gắn
bó với nhân danh Bảo hộ, nếu không nói là đến sự việc, chúng ta có ý tưởng kỳ cục
là tạo ra một con ma chính phủ An Nam, dưới các thể loại của một Thái tử thái
phó, hoặc Kinh lược của Bắc kỳ. Kết quả, nơi những gì ta tìm kiếm trong một chế
độ Bảo hộ, thì tuyệt đối chẳng được gì hết. Một chính phủ truyền thống, đã tồn
tại từ trước, dẫu cho nhân sự đã thay đổi, có thể phục vụ như một bức bình
phong cho nhà chinh phục để dẫn dắt dân tộc đã chinh phục được; nó có một uy
quyền riêng lên dân chúng mà người chiến thắng được hưởng lợi. Nhưng nếu như
chính phủ bản xứ đã tạo ra toàn bộ, nếu nó là sản phẩm của cuộc chinh phục, thì
chả có uy quyền gì ngoài những thứ mà người chinh phục cho nó; nó là một công cụ
của người này, không hơn. Chức năng của Kinh lược Bắc kỳ chả có chút giá trị
tinh thần nào cho công cuộc ngự trị của chúng ta; nó hẳn chỉ có thể mang một mối lợi thực hành.
Chẳng cần một kỳ sát hạch dài để tin tưởng rằng mối lợi này không tồn tại và rằng
ngược lại những bất tiện và thậm chí những nguy hiểm bắt nguồn từ sự tồn tại của
nó thì rất lớn.
Quản
lí đất nước nằm toàn bộ trong tay người đại diện nước Pháp, của Thống sứ hoặc của
người đảm nhận chức phận ấy. Ở các tỉnh, sự quản lí ấy được thực thi bởi các
Công sứ, những người này ra lệnh cho các quan lại An Nam. Người đứng đầu trong
tỉnh của những viên quan này gọi là Tổng đốc. Các quan viên công nhận quyền lợi
cho dân bản xứ. Các Công sứ, thâu tập toàn bộ chính quyền các tỉnh trong tay họ
và được đặt dưới lệnh trực tiếp của Thống sứ, sự tổ chức hình như đầy đủ. Sở
Kinh lược là nơi trợ giúp và như là ngoài lề. Sở này không trọng coi việc quản
lí; nhưng do phải cho họ những quyền hạn, người ta đã lập ra một tòa án phúc thẩm
và cho Sở ấy toàn quyền xử lí những bước tiến triển nâng bậc quan viên các tỉnh.
Trong lĩnh vực này, Sở ấy làm việc thoải mái, không định hướng và không có kiểm
soát. Sở trao đổi với các quan viên, gọi họ đến làm việc. Với một con người ít
chắc chắn, tổ chức độc lập này đã không phải đã không khiến thể chế của chúng
ta bị hủy hoại.
Nhưng
điều bất lợi nghiêm trọng, thậm chí nguy hiểm, nằm trong một số phong tục của
chính quyền cũ mà điều ấy cứ tồn tại mãi. Tầng lớp quan lại của đế chế An Nam,
vả lại cũng giống như các quan lại Trung Quốc, đã có thói quen bóp hầu nã của
dân chúng chừng nào họ muốn trong quyền lực của họ. Không phải chỉ có thuế khóa
mà họ đã trích lấy không chừng mực, nhiều để nuôi cái két riêng nhà họ cũng như
để làm đầy ngân khố hoàng gia; họ đã bán đứng sự công bằng, họ buôn lậu công việc,
những ân huệ các kiểu mà họ phân chia theo giá tiền. Các Công sứ cố gắng để làm
giảm tệ nạn này; sở Kinh lược khiến sự duy trì không tránh được của nó. Họ có
những nhu cầu, một lượng khách hàng đông đúc, sống dư dả. Sáu ngàn đồng bạc, tức
khoảng mười sáu ngàn frăng mà chúng ta phát cho họ không thể đủ. Không bỏ qua
chuyện dìm số tiền ít ỏi đó vào trong những lương bổng “phát sinh-ngân sách” rất
đáng kể. Các phần cần xem lại trong những phán xét tại tòa sơ thẩm được gửi đến
cung cấp cho họ nguồn thu nhập đầu tiên; quan viên các tỉnh, để được duy trì tiếp
tục chức vị của mình và để thăng tiến, cũng phải trả giá bằng sự đóng góp nặng
nề. Vả lại họ không phải phàn nàn nhiều, bởi đã có thói quen đòi hỏi dân chúng
những khoản mà họ phải rót vào sở Kinh Lược, kèm theo chút gì đó thêm dành phần
cho chính họ.
Đó
chính là điều mà Kinh lược sứ, Ngài Hoàng Cao Khải đã thú nhận với tôi với sự
chân thành chất phác tại một trong những cuộc trò chuyện đầu tiên giữa chúng
tôi:
-
Ngài sẽ không bao giờ phải khiển trách tôi vì bất kỳ điều gì, - ông ấy nói với
tôi, - nếu như chuyện liên quan đến tính trung thực...
Nhưng
điều đó đối với ông ấy có vẻ như rất ít quan trọng! Thật là không may chút nào,
tôi lại có ý tưởng khác; tôi nghĩ rằng nếu chúng ta có quyền đòi hỏi dân chúng tất cả những đóng góp cần
thiết liên quan đến sự việc công quyền, thì chúng ta phải bảo vệ họ chống lại sự
khai thác vô chừng mực không giới hạn tiếp tục, mà họ là đối tượng của các quan
lại. Làm cho sự lạm dụng này biến mất, đó là biến chuyện tăng thuế và nguồn ấy
sẽ đổ về ngân khố của chúng ta, trong khi vẫn còn để lại những món lợi quan trọng
cho dân chúng đóng thuế được hưởng.
Như
vậy, một mặt chức năng của Thái tử thái phó, do chúng ta lập lên, không còn bất
kỳ uy quyền nào mà chúng ta có thể tận dụng, và mặt khác, người được quyền chẳng
thêm gì vào chuyện ấy. Hoàng Cao Khải trên thực tế không thuộc một gia đình quý
tộc trọng vọng hoặc có tiếng tăm lớn; đó cũng không phải là một nhà nho mà những
thành công có thể khiến đám đông phải kính nể; ông ấy là do chúng ta tạo dựng,
và chẳng có gì khác. Sự che chở của nước Pháp làm lên toàn bộ quyền lực và uy
tín của ông ấy. Sự thiết lập một phủ Hoàng gia Thái phó bản xứ, trong những điều
kiện mà nó đã được thành lập và trong những điều kiện mà nó vận hành, vậy là đã
chẳng có bất kỳ lợi ích nào, trong khi nó lại mang đầy những mối bất lợi. Tại
sao lại để nó tồn tại chứ? Tôi tự vấn mình và sự cương quyết ngay lập tức thuộc
về nguyên tắc. Tôi đã phải mất mấy tháng để chuyển dự án của mình sang hành động
mà không gặp phải vấp váp, không gây xung đột, trong lúc tôn trọng tất cả những
lợi ích và ghi nhận những việc làm đã thực hiện. Sau đó thì dễ dàng giáo hóa dần
dần chính quyền bản xứ.
Một
xu hướng bất hòa mà tôi nhận thấy ngay từ đầu và tôi đã hành động chống lại, tồn
tại ở phủ Thống sứ và các phủ Công sứ dưới tỉnh, mà qua đó, mỗi ngày người ta lại
thu hẹp quyền tự trị của các làng xã bản xứ, người ta can thiệp vào những sự vụ
của họ. Tôi thấy có vẻ tốt hơn là cần bảo lưu toàn bộ, thậm chí là củng cố thêm
sự tổ chức xưa cũ mà chúng ta đã tìm thấy. Sự tổ chức ấy biến ngôi làng thành một
nhà nước thu nhỏ, độc lập trong chừng mực những mối lợi ích địa phương. Đó là một
tập thể được xây dựng rất vững vàng, có kỷ luật, có trách nhiệm với chính quyền
cấp trên về những cá nhân sinh sống trong cộng đồng đó mà chính quyền có thể
không biết, điều tạo thuận lợi cho nhiệm vụ trở nên đặc biệt dễ dàng.
Làng
xã An Nam được quản lí bởi một Hội đồng Cường hào, thông thường Hội đồng bao gồm
những người đàn ông đáng kính nhất. Hội
đồng được thành lập gồm số lượng thành viên được xác định; hội tự tuyển mộ
thông qua cách tuyển lựa bổ sung. Khi có một chỗ trống, Hội đồng bổ sung một thành
viên mới trong số dân chúng mà gia sản, tính cách, sự thông thái, những công việc
mà họ đã cống hiến, chỉ định cho số phiếu bầu của họ. Những lựa chọn hình như rất
sáng suốt và đúng đắn được thực hiện, không bị ảnh hưởng của bất kỳ bè đảng
nào, bởi thể chế lưu truyền mãi mãi và rằng các thành viên của Hội đồng Cường
hào khoan khoái với một uy quyền lớn.
Hội
đồng chịu trách nhiệm toàn bộ về quản lý xã. Nó bổ sung vào đó qua trung gian một
ông thị trưởng, hoặc Lý trưởng, mà Hội đồng bổ nhiệm và người này không phải là
người đứng đầu hội đồng xã như ở bên Pháp, mà là người thi hành những ý muốn của
họ và là người đại diện của họ bên cạnh chính quyền. Lý Trưởng phải đảm đương tất
cả những công việc khổ ải và khó chịu; mọi trách nhiệm đều đè lên đầu ông ta,
mà không hề được dự phần vào những vinh dự được thuận cho các Cường Hào. Nhưng
điều này thì đúng, từ những chức năng của mình, ông ta có được những lợi nhuận
vật chất, và nếu như ông ta hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nếu ông ta được đánh
giá cao và được dân chúng của xã ông coi trọng, ông ta có cơ may được nâng lên
đẳng cấp Cường Hào vào một ngày nào đó.
Chức
năng đầu tiên của Hội đồng xã ở An Nam là duy trì trật tự trên toàn lãnh thổ của
xã; họ chịu trách nhiệm trước chính quyền Pháp về cách ứng xử tập thể của dân
chúng và bắt các tác giả tội phạm và các cá thể gây tội ác, mà họ phải trao cho
các quan viên để xét xử chúng. Họ có trách nhiệm trợ giúp dân làng, hơn nữa vai
trò này dễ dàng trong một đất nước, nơi mà gia đình được tổ chức hết sức chặt
chẽ, nơi mà nhiệm vụ của những người đàn ông hướng về thế hệ trước rất cấp thiết
và là đối tượng của một tín ngưỡng toàn cầu.
Chính
làng xã đảm nhận sự giáo dục trẻ em. Họ duy trì những ngôi trường học khiêm tốn,
ở đó người ta dạy những kiến thức cơ bản sơ đẳng, mà chương trình dạy thì giống
nhau trong toàn bộ vùng Cận-Đông. Ở đó, đứa trẻ học chữ Trung Quốc, thể loại chữ này cũng là ngôn ngữ viết của dân An
Nam, chỉ có điều những nét phụ ít quan trọng, hệt như các tiếng Trung Quốc, tiếng
Nhật Bản, tiếng Triều Tiên vân vân... Thế giới người da vàng có nhiều ngôn ngữ
nói, nhưng họ sở hữu một ngôn ngữ viết duy nhất, nó biểu thị qua chữ viết những
ý tưởng chứ không phải những từ trong ngôn ngữ nói. Đó là chữ ghi ý, trong khi
các ngôn ngữ châu Âu là ngữ âm. Đến nỗi mà ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết của một
dân tộc vùng Cận-Đông không có mối quan hệ nào với nhau hết, và ngôn ngữ nói của
hai quốc gia khác nhau, của hai tỉnh kề cận (đó là trường hợp ở Trung Quốc) có
thể khác nhau, trong khi ngôn ngữ viết thì đồng loạt cho tất cả.
Điều
đó có thể giải thích được, bởi các chữ biểu
thị ý tưởng chứ không phải là âm thanh của lời nói. Trong ngôn ngữ của chúng
ta, nếu ta dùng các từ biểu đạt các sự vật có cùng bản chất, ví như như khi nói
về nước chẳng hạn, chúng ta thấy: Suối, sông, sông lớn, đầm, hồ, biển, đại
dương... Chúng không có gì giống nhau hết: ta không nhận ra sự có quan hệ họ
hàng nơi chúng, lẫn khi phát âm chúng lên hay khi nhìn. Ngôn ngữ nói của vùng Cận-Đông
có thể sẽ biểu đạt những thứ này, tựa như ngôn ngữ của chúng ta vẫn biểu đạt, bằng
những từ hòa âm thuận tai đa dạng.; ngôn ngữ viết sẽ diễn đạt chúng bằng những
chữ phức tạp, cùng gia đình, có một chữ cơ bản là nhân tố chính chỉ nước. Chữ
đó sẽ được hoàn thiện bằng các dấu đã được biết đến để nói nước chảy, nước ao
tù, hoặc rất nhiều nước, vân vân... Ngôn ngữ viết biểu thị ý tưởng, số lượng chữ của ngôn ngữ thường nhật vậy là
không nhiều; những thứ mà người ta nói đến và những suy nghĩ mà người ta trao đổi
với nhau giữa các nhà nông hoặc thợ thủ công trên thực tế thì đúng là không đa
dạng lắm. Nhưng, ngay khi liên quan đến một đời sống phức tạp hơn, về nghệ thuật,
khoa học, triết học, các chữ mà ta cần phải biết lên tới hàng nghìn, và cả một
đời người chỉ lao vào học chúng. Hành trang của một nhà nho thực sự là hãi hùng
vì nặng và cồng kềnh.
Trong
các trường học ở làng, người ta dạy các chữ cơ bản. Những cuốn sách tập đọc mà
họ trao vào tay lũ trẻ thì đúng là những tiểu kiệt tác thực sự, trong đó trình
bày tinh thần đạo đức của Khổng Tử trong
một ngôn ngữ đơn giản và đẹp, khắc ghi vào trí óc đám trẻ thơ. Ta chuyển từ cuốn
thứ nhất, hết sức đơn giản, hết sức cơ bản, dạy cho ta những tôn chỉ nguyên tắc
đạo đức đầu tiên, sang đến cuốn thứ hai, dàn trải hơn, sau đó sang cuốn ba và cứ
tiếp tục như thế. Trong các trường học tại phần lớn những ngôi làng, người ta tự
thỏa mãn với chừng từ bốn đến năm cuốn. Bọn trẻ học ở đó, cùng lúc với một lượng
chữ đủ để viết và trao đổi trong những tình huống đơn giản mà họ gặp nhau, những
nguyên tắc đạo đức và những quy định ứng xử sẽ giúp họ trong suốt cuộc đời.
Đương nhiên, chính tại điểm này chứng tỏ đó là một nền giáo dục rất chưa hoàn
chỉnh; tuy nhiên nó đủ để làm cho một dân tộc cần cù, gắn bó với nhiệm vụ gia đình,
hạnh phúc về đại thể khi những nguyên nhân bên ngoài không khiến họ bối rối.
Tổ
chức xã ở An Nam, nếu như nó tạo điều kiện dễ dàng sự duy trì trật tự và đảm bảo
những phục vụ lợi ích xã hội mà chúng ta đã gỡ bỏ, vẫn còn có lợi thế khiến cho
việc lãnh thuế trực tiếp thoải mái và rẻ hơn. Cũng tại điểm này, chúng ta có trước
mặt mình là tập thể các dân chúng đóng thuế chứ không phải là những cá nhân.
Thay bằng lập lên vai trò của từng cá nhân, chúng ta chỉ việc đánh giá thuế tổng
thể của xã. Viên Công sứ Pháp, qua trung gian các quan viên, gửi lời đến các Cường
Hào:
-
Trong xã các ngài, - ông ấy nói với họ, - có rất nhiều người đàn ông trong tình
trạng phải đóng thuế thân, thì phải thực hiện chừng ấy; các ngài có x mẫu ruộng đồng loại một (một mẫu bằng
chừng ½ hec-ta), y mẫu loại hai và z mẫu loại ba; các ngài có một diện tích
đất gieo trồng n khác nhau; khi nhân
theo tỷ lệ thuế ruộng đất có thể áp dụng cho mỗi thể loại, thì có được một khoản
là... Tổng cộng, thuế thân và thuế ruộng đất là, ví dụ thế, 800 đồng bạc mà các
ngài phải nộp.
Nếu
như không có sự tăng thuế năm này năm khác, người ta không tranh cãi. Trong trường
hợp ngược lại, cần phải thuyết phục giới chức Cường Hào rằng họ chính là bị
đánh thuế phụ thu. Thỏa thuận được thực hiện, hội đồng Cường Hào thu xếp với
dân chúng; họ chia đều thuế với nhau như họ muốn. Xã là một nhà nước nhỏ phụ
thuộc phải nộp cống. Chúng tôi ước giá phần đóng góp tùy theo sự giàu có tổng
thể; chính xã đó phải xem làm thế nào để tập hợp được số thuế đó.
Hệ
thống này tiện lợi đối với chúng ta, và nó có vẻ tốt; nó đem lại cho tổ chức xã
một sức mạnh lớn, tránh được một sự tiếp xúc trực tiếp giữa chính quyền Pháp và
dân chúng, với những xung đột, những va chạm từ đó mà nảy sinh. Hành động của
chúng tôi không hề kém hiệu quả; nó được thực thi thành thông qua trung gian những
đại diện của dân bản xứ.
Ở
Nam Kỳ, chúng ta đã hành động kiểu thực dân thiếu trải nghiệm, và chúng ta đã
đưa vào đó, chừng nào có thể, những quy định hành chính của chính quốc, xã An
Nam đã mất đi một phần lớn quyền tự trị của họ. Những bất lợi nảy từ đó hiển hiện
rõ ràng, và tôi đã tìm kiếm một cách vô vọng những lợi ích của chúng.
Dẫu
bị giảm quyền hạn, ở Nam Kỳ chức năng của giới chức Cường Hào vẫn rất được kính trọng và có uy thế, cũng nhiều hệt như ở
Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Bất kỳ người đàn ông nào chứng tỏ được trí thông minh, dũng
cảm đều có thể hi vọng trở thành Cường Hào. Sinh viên đã đỗ cao trong các kỳ
thi, người nông dân trở nên giàu có nhờ làm việc trên đồng đất của mình, người
trở về làng sau khi đã đảm nhận một công việc tại sở nhà nước, đều được đảm bảo
một ngày nào đó sẽ được bầu vào đẳng cấp Cường Hào. Trong tất cả các cuộc biểu
tình, trong tất cả các buổi lễ, đặc biệt là những buổi diễn ra ở chùa, Cường
Hào được ngồi hàng đầu. Và hệt như các vấn đề về thể thức, phẩm tước và vị trí
ngồi trên nơi người An Nam, mang một sự quan trọng đặc biệt. Là Cường Hào chính
là một vinh dự được tìm kiếm. Người ta có thể chỉ định Cường Hào một cách ngoại
lệ, với tư cách danh dự, một người xa lạ với xã, hệt như các thành phố cổ xưa được
đem lại quyền là thành thị.
Tôi
có kỷ niệm về một cuộc bầu cử đã được thực hiện như thế, diễn ra trong một ngày
bất thường theo sự mê tín dị đoan của người bản xứ. Chuyện diễn ra trong một
ngôi làng ở Nam Kỳ, thuộc tỉnh Bà Rịa, nơi mà loài hổ sinh sống rất nhiều.
Tỉnh
Bà Rịa thưa dân, hổ và người thường không sống chung trên cùng lãnh địa. Phải
có rừng cho hổ, những thửa cỏ cao trên nền đất không thể gieo trồng, tất cả những
gì cho chúng làm hang ẩn nấp và một khu đất săn mênh mông. Vùng đất mà con người
trồng trọt thì hổ không thể sống được nữa; hổ cứ lùi dần theo mức độ con người
chinh phục được đất đai và lãnh địa. Nhưng điều đó không xảy ra ngay một lúc một
khắc, và rất lâu trước cuộc chinh phục vĩnh viễn, thì có sự chia sẻ. Khi những
ngôi làng và đất trồng trọt bao quanh chúng tựa như những hòn đảo ở giữa vùng
biển hoang vu của những khu rừng rậm và trảng
bụi, lãnh địa của những con thú hoang, con người và con hổ là hàng xóm của
nhau và gặp gỡ nhau, trước sự thiệt hại lớn của cả hai bên. Cuộc săn bắt bắt đầu...
Một
cách thông thường, một cách đương nhiên, chính hổ là kẻ đi săn, còn người là
con mồi. Chỉ có điều con mồi ấy đôi khi rất nguy hiểm. Con hươu, con công mà
loài hổ rất khoái khẩu, đã chẳng có phương tiện nào khác để tự vệ ngoài những
gì thiên nhiên ban tặng cho, cặp chân hoặc bộ cánh. Con người bị cô lập trên đường,
trong những cánh đồng, trong rừng mà con hổ nhìn thấy đi qua, là một con mồi hết
sức dễ dàng, cho dù có trang bị vũ khí hệt như bất kỳ con vật nào. Một cú nhảy,
con hổ đã bổ thẳng xuống, nó ngoặm chặt gáy anh ta trong bộ quai hàm khủng khiếp
của nó, và đem anh ta đi, đã chết hay vẫn còn sống, thân thể người được ném lên
lưng nó, và nó chạy như bay. Nhưng nếu như con hổ là một loài độc hành, con người
là một bản thể sống thành xã hội; họ biết nhu cầu đi thành nhóm chống lại kẻ
thù; họ có lửa, - sự khám phá vỹ đại của loài người! – lửa khủng khiếp, lửa nghiến
ngấu, lửa tán nghiền trong sự đớn đau khủng khiếp của tất cả những cỏ, những
cây thân mềm, những cây đại thụ, cũng như cả loài rận rệp, côn trùng và loài ác
quỷ của rừng rậm! Lửa mà không gì có thể kháng cự nổi, trước nó tất cả đều hãi
hùng lẩn trốn, thì đã được loài người bắt được, thuần phục. Vậy người là một
con mồi mà hổ ngờ vực, và nó phải quay đi dẫu nó nhìn thấy người bước đi với những
ngọn lửa gần anh ta, và nó luôn luôn rất sợ những cạm bẫy. Bởi con người tự vệ
như họ có thể; nếu như anh ta không khỏe nhất, thì anh ta lại thuần thục nhất, khéo léo nhất. Tất cả đều tốt cho anh ta để
chống lại kẻ thù ác độc và khủng khiếp của mình. Đó là những cái hố sâu mà anh
ta đào lên rồi cắm cọc và phủ lên cành cây nhẹ, trên đó được buộc một con vật,
một con dê non, chó hoặc lợn sữa, những tiếng kêu hoảng loạn của chúng thu hút
con hổ; nó hối hả nhảy vọt đến và rơi xuống đáy hố cùng với con mồi. Đó là những
cái bẫy gỗ, nơi mà con hổ nếu bất cẩn dấn vào để bắt lấy món ăn được dâng tặng
cho cơn đói của nó hoặc cho món khoái khẩu của nó, sẽ khiến cho bẫy sập xuống
và nhốt nó ở trong, thít nó hết sức chặt đến nỗi nó không còn động đậy được nữa.
Đó là mũi tên hoặc phát súng của con người đang nấp đâu đó, đó là thuốc độc chết
người được trộn khéo léo vào một thức mà nó thích... Vậy là hổ có lí do nào đó
để phải thận trọng chống lại một kẻ thù quá đỗi yếu đuối ấy thế nhưng lại quá đỗi
nguy hiểm.
Về
phần mình, con người đã rất sợ hổ. Họ biết cái chết nào đang đợi họ trong bộ
móng vuốt và hàm răng của nó. Ít người nhìn thấy hổ đi lại tự do. Thông thường,
ai nhìn thấy nó một lần sẽ không nhìn thấy nó lần thứ hai, và anh ta sẽ không kể
những cảm giác của mình khi nhìn thấy nó cho bất kỳ ai. Dân An Nam sống trong
những vùng đất này, nơi mà vẫn còn hổ, trong những “vùng nhiều hổ” như trong
các bản đồ hàng hải vẫn nói, thì họ hết sức thận trọng. Họ không ra khỏi nhà
trước khi mặt trời mọc và sau khi mặt trời lặn. Đất ban ngày thuộc về họ, ban
đêm thuộc về hổ. Trên thực tế, hổ không thích, không chịu đựng được ánh sáng
choang giữa ban ngày. Ánh sáng choang khiến chúng lóa mắt, khiến chúng mất hết
khả năng. Chính về đêm thì chúng mới sống thực sự và rất nguy hiểm. Suốt cả
ngày, chúng ẩn nấp, ngủ trong những hang sâu. Khi ngày tàn dần, chúng ra đi và
bắt đầu săn để hạ cơn đói. Chính trong thời điểm này, vào lúc hoàng hôn mà
chúng ta có nhiều cơ may nhất nhìn thấy chúng và cũng là nguy hiểm nhất khi gặp
chúng.
Với
sự phòng ngừa nghiêm ngặt và thận trọng cao, có thể sống mà không quá nhiều rủi
ro cá nhân trong những vùng mà người tranh chấp với các loài thú hoang. Những
con thú và người đều có lãnh địa riêng biệt, không những về không gian, mà còn
về thời gian. Trong những ngôi làng tách biệt, dân An Nam chấp nhận modus vivendi (thỏa thuận) này và không
tìm cách chơi trò ác với hổ, hi vọng loài này để cho họ yên và sẽ không tấn
công họ cũng như đàn vật nuôi của họ. Họ luôn mang trong mình nỗi lo sợ hãi
hùng đối với hổ, nhưng họ vẫn dành cho nó sự kính trọng lớn. Đó là một lãnh
chúa cận kề, khỏe mạnh và khủng khiếp, nên họ không muốn chọc giận. Họ chỉ nói
về nó với sự tôn kính, họ không nói “một con hổ”, mà nói “một ông hổ”.
Những địa phận Đông Dương mà người và hổ sống
cạnh nhau là những vùng cao ngoài Bắc kỳ, miền trung và miền nam Trung kỳ,
Căm-pu-chia, các tỉnh miền đông Nam kỳ, đặc biệt là tỉnh Bà Rịa, nơi dẫn đến
câu chuyện này của tôi. Trong ngôi làng mà ta vừa nói đến, từ một hai năm nay,
dân chúng sống trong một sự bình an hoàn toàn, không nghe nói đến hổ trong rừng
hay trong trảng bên cạnh. Đúng là họ không vượt quá những ranh giới trồng trọt
của họ, trở về nhà ngay khi mặt trời xuống thấp phía chân trời. Về phần chúng,
lũ hổ chứng tỏ một sự e dè tương đương; người ta không nhìn thấy chúng trong suốt
cả ngày; chúng không bao giờ vào làng lúc đêm buông hoặc không để lại đó bất kỳ
dấu vết nào khi chúng đi qua. Vậy là mọi chuyện đều tiến triển vì sự tốt đẹp nhất,
thế rồi bất thình lình, mọi thứ thay đổi đột ngột. Một buổi sáng đẹp trời, người
ta phát hiện rằng một con lợn đã bị bắt đi trong đêm, ngay trong sân nhà chủ
nó; những người hàng xóm đã nghe thấy những tiếng kêu chói tai và nhanh chóng bị
bóp nghẹn. Ngày hôm sau, lại là một con lợn khác, hôm sau nữa là một con dê, tiếp
đến là một con chó; mỗi đêm lại có một con vật bị bắt đi, bị hổ nghiến ngấu. Tất
cả dân làng đều thức đêm, nhìn ra ngoài qua những khe cửa ngôi nhà đóng kín mít
của họ. Rất nhiều trong số họ đã nhìn thấy kẻ gian ác.
Làm
gì bây giờ? Ông hổ đã thực sự cư xử tồi với những người hàng xóm mà họ đã chẳng
làm phiền ông, hơn nữa, họ kính trọng ông hết mực và luôn dành cho ông sự tôn
kính. Các Cường Hào nhóm họp, và do họ chẳng tìm ra bất kỳ phương tiện nào để khiến
ông hổ có mối tình cảm thân thiện hơn, ông hổ này cứ tiếp tục những trò phá
phách của mình, họ cầu cứu đến sự sáng suốt của công chức An Nam gần nhất, ngài
Tổng trưởng.
Nhà
công chức hối hả chạy đến, nghe những lời ta thán của từng người, ghi nhận những
mất mát và thảo luận rất lâu với các Cường Hào. Là người thận trọng, ông ấy nói
về những cách thức thái bình. Nếu ta định dùng vũ lực, nếu ta giết chết chính kẻ
thù, điều không dễ dàng, ta có thể nói mọi chuyện sẽ dừng ở đây được không? Có
rất nhiều những con hổ khác trong rừng nữa, và nạn nhân chắc sẽ không có những
kẻ trả thù cho nó ư?
Khung
cảnh của trận chiến đấu khiến tất cả mọi người hoảng hồn; các giải pháp bạo lực
được tách ra. Phải điều đình với hổ, bước vào những dàn xếp. Các dự án được đưa
ra rất nhiều, rồi lần lượt bị gạt đi. Một trong những ý kiến mà các Cường Hào
thảo luận rất lâu là tự giải thoát bằng một một khoản chuộc lớn; người ta sẽ tặng
cho hổ bốn hoặc năm con lợn, hoặc ba con lợn và chừng ấy con chó, và nó sẽ hiểu
rằng người ta đã thực hiện một sự hi
sinh lớn nhường ấy để giải thoát phần đóng góp hàng ngày. Sự trù tính có vẻ mạo
hiểm; chẳng gì cho phép tin rằng hổ sẽ chấp nhận; nó hẳn sẽ giết chết tất cả những
con vật được đặt trước mõm nó nếu như nó không ăn hết tất cả, và rất có thể sẽ
quay lại vào ngày hôm sau. Thế thì ta sẽ đạt được mối lợi nào đây?
Ông
Tổng trưởng chính mình cũng tìm kiếm một giải pháp; ông chất vấn:
-
Ngôi làng đã không phàn nàn về hổ từ hai ba năm nay, nhưng trước đây thì
sao?...
Trước
đây, đó là một cuộc chiến xen kẽ, nhưng đó đúng là chiến tranh. Một trong những
Cường Hào nhớ lại rằng mười năm trước, chú ông ta đã bị hổ xé xác ngay trên
cánh đồng của mình, trong khi mặt trời vẫn còn chưa tắt hẳn. Một người khác, rất
già, đưa ra bản danh sách những người và gia súc bị chết mà ông ấy đã biết
trong suốt hơn nửa thế kỷ. Những cái chết dần dần thưa hơn để bước vào thời kỳ
dài bình an mà họ vừa trải qua. Trước khi đến giai đoạn này mà họ đã gặp một loạt
vụ gia súc bị bắt đi, do chính cùng một con hổ, và người ta đã nhìn thấy nó nhiều
đêm liền.
-
Nó như thế nào?
Đương
nhiên, người ta miêu tả nó khổng lồ, tuyệt hảo.
-
Giống hệt như con hổ hiện giờ đến đây.
-
Có thể là chính con ấy chăng?
Người
ta tìm kiếm, người ta nói cụ thể. Sự giống nhau là bất khả kháng.
-
Chắc chắn là chính nó rồi!
Tất cả mọi người đều tự cho rằng đã nhìn thấy con
hổ ngày trước và con hổ hiện tại, và tất cả mọi người khẳng định rằng có tính đồng
nhất của cá thể ấy.
-
Thế thì tại sao nó đã thôi gây tổn hại cho làng, và tại sao nó lại bắt đầu nữa
chứ?
Người
ta nhớ rằng trong những năm ngày xửa ngày xưa, nó thường xuyên thực hiện những
chuyến viếng thăm tai hại, người ta điều đình thỏa hiệp với nó; người ta đã
dành cho nó những danh dự trang trọng ở chùa. Nó đã động lòng vì điều ấy và thỏa
mãn, nên sau đó đã cư xử hài hòa.
Tổng
trưởng tuyên bố rằng con hổ đã quay lại bởi người ta đã thôi không tôn kính nó
nữa; nó không hài lòng vì sự quên lãng này và nó trả thù. Các Cường Hào, trong
một động tác ve vãn dành cho viên công chức kia, liền bảy tỏ sự ngưỡng mộ của họ
trước sự sáng suốt của ông ấy.
-
Chính thế! chính thế! Chính là điều ấy đấy; nhưng phải làm gì bây giờ?
-
Dành cho nó những danh dự hiển vinh mới, những danh dự nghiêm túc và dài lâu.
Người
ta suy ngẫm, người ta đưa ra những gợi ý khác nhau nhất. Cuối cùng một ý tưởng
thần thánh xuất hiện:
-
Nếu chúng ta chỉ định nó làm Cường Hào
thì sao nhỉ?
Một
khắc sững sờ đón nhận lời gợi ý bất ngờ ấy. Rồi người ta bình tâm lại; đó là
danh dự tối cao nhất mà người ta có thể dành cho một nhân vật; nó thường trực...
Con hổ chắc chắn sẽ rất lấy làm thích thú; nó hẳn sẽ phải bảo vệ làng chứ không
còn phá phách nữa. Tất cả, lần lượt thông qua gợi ý này. Ý kiến được nhất trí:
-
Chúng ta hãy chỉ định hổ là Cường Hào của xã!
Tổng
trưởng xen vào:
-
Các ông đã nghĩ kỹ rồi chứ? Đó là điều mọi người đã nhất trí đồng lòng rồi chứ?
-
Vâng, chúng tôi đã quyết định xong rồi.
-
Các ông rất khéo xử sự, và hơn nữa tôi tán thành với các ông. Nhưng vẫn còn phải
xem hổ có chấp nhận hay không, rằng nó có cam kết không thực hiện những vụ phá
phách ban đêm nữa. Phải hỏi nó điều ấy.
Một
sự im lặng bối rối đón chào ý tưởng này, thực thi nguy hiểm. Không ai lao tâm
khổ tứ bước vào cuộc trò chuyện với hổ cả.
Người nào sẽ được đặt trên đường đi của nó, vào một trong những đêm tới đây, để
đề nghị với nó điều gì đó, được đảm bảo ra đi thăm thế giới khác, trước khi nói
lời đầu tiên nếu lũ hổ được bầu là Cường Hào.
-
Nói với nó thế nào đây? – vài người lên tiếng với vẻ lúng túng.
-
Các ông viết thư cho nó.
Người
ta thở phào. Đó chính là điều nên làm. Tổng trưởng rõ ràng là một viên chức xuất
chúng, xứng đáng trở thành một đại quan viên. Những lời khuyên của ông ấy hết sức
tuyệt vời, và nếu như ông ấy không rời khỏi xã với hàng đống quà cáp, thì đó là
bởi sự bội bạc đã tràn ngập trong tim của con người.
Ngay
trong phiên họp, người ta tức tốc thảo lá thư gửi cho hổ, bằng chữ Trung Quốc,
hệt như điều cần làm dành cho một vị khách của rừng xanh vùng Cận-Đông. Lá thư
rất xứng tầm và xúc động!... Tôi đã có nó trong tay, và hôm nay tôi rất lấy làm
tiếc đã không tha thiết với nó trong khi một tài liệu như vậy đáng giá nhường
nào. Tôi chỉ có thể tóm tắt nó theo trí nhớ những đoạn chủ yếu. Và chúng đây:
“Thưa
ngài hổ”
“Trong
thời gian gần đây chúng tôi đã phải chịu khổ sở trước những việc mà ngài nghĩ
có quyền thực hiện trên những đàn gia súc của chúng tôi, chúng là toàn bộ gia sản
của chúng tôi. Chúng tôi rất bất hạnh...
“Chúng
tôi đã suy nghĩ kỹ. Những việc làm nghiêm khắc của ngài có một lí do; đó chắc
chắn là bởi chúng tôi đã không tiếp tục dành cho ngài những danh dự hiển vinh
mà chúng tôi cần phải làm từ hai năm nay, và chúng tôi đã nợ ngài; đó là điều
khiến ngài nổi giận. Điều đó là dễ hiểu,
và chúng tôi xin lỗi ngài...
“Để
chứng tỏ với ngài rằng chúng tôi đã dành cho ngài sự quý mến và kính trọng nhường
nào; và để giảm bớt cơn giận dữ của ngài và bảo vệ tài sản của chúng tôi, chúng
tôi đã dứt khoát chỉ định ngài là Cường Hào của xã. Đó là một danh dự lớn nhất
mà chúng tôi có thể trao. Chúng tôi hi vọng rằng ngài sẵn lòng chấp nhận chức vụ
này. Nếu như vậy, làm ơn cho chúng tôi biết sự chấp thuận của ngài bằng cách vạnh
một vết móng của ngài lên gốc thân cây mà chúng tôi dán bức thư này...”
Bức
thư được ghim trên vỏ thân cây to, một cây
đa, lâu năm ngay trước cổng làng, ngay trước tầm nhìn của hổ. Sáng hôm sau,
đám Cường Hào dẫn nhau đồng loạt đến thăm cây. Họ chẳng khó khăn gì để khám phá
ra, ngay dưới gốc cây, một vết xước: đương nhiên đó là câu trả lời khẳng định của
hổ rồi. Nó đã đồng ý lời đề nghị mà người
ta gửi đến nó. Không chậm trễ nữa, hội đồng được nhóm họp và hổ được bầu Cường
Hào.
Bốn
năm ngày sau, Tổng trưởng đến gặp quan chức hành chính Pháp, ở thủ phủ của tỉnh,
ở Mũi Saint-Jacque (thuộc Vũng Tàu ngày nay - ND). Ông ấy đã đem lá thư của đám
Cường Hào ấy đến cho vị quan chức Pháp kia, lá thư mà hổ đã đọc và tán thành,
và kể cho ông người Pháp nghe toàn bộ câu chuyện với vẻ tự hào. Trong những đêm
gần đây, tức sau khi đã ký hiệp ước, con hổ đã không tái xuất hiện trong làng nữa,
và dân chúng, cũng như đàn dê, lợn và chó của họ, đã có thể ngủ yên.
Tôi
đã có mặt ở Vũng Tàu nhân sự kiện đáng ghi nhớ này diễn ra. Viên quan chức hành
chính Pháp, mà câu chuyện này đã khiến ông ấy cười rất nhiều, xin phép được giới
thiệu ông Tổng trưởng nọ với tôi, và cho tôi xem lá thư được viết cho hổ. Viên
công chức An Nam phải chật vật để che giấu niềm tự hào mà thành công sáng tạo ấy
đã đem lại cho ông ta, dưới một thái độ tôn kính và khiêm nhường. Đúng là nhộn
hết sức; nhưng tôi đã phải đợi cho ông ta chào ra về và khi chỉ còn một mình với
vị quan chức Pháp kia thì tôi mới được cười thoải mái. Chẳng nên làm phiền lão
một con người đáng thương đã tin chắc rằng mình đã làm được một công việc lớn
lao, và đã nâng được một con hổ lên hàng dành cho những người đứng đầu nơi mà
ông ta quản lí chứ.
CHƯƠNG V
TRUNG KỲ
Đợt
lưu trú đầu tiên của tôi ở Bắc kỳ, nhận biết thực sự về đất nước, chỉ kéo dài một
tuần lễ. Tôi nóng lòng muốn hoàn thành cuộc thăm viếng của mình trên toàn bộ
lãnh thổ Đông Dương và sắp đặt trụ sở vĩnh viễn Chính phủ toàn quyền tại Sài
Gòn.
Tuần
dương hạm Isly, con tàu đã đưa tôi đến
Bắc kỳ, đợi tôi ở vịnh Hạ Long. Tôi xuống tàu ngày mùng 10 tháng Ba, được hai sỹ
quan tháp tùng, tư lệnh Nicolas và trung úy Dubosc, và giám đốc Kiểm tra tài
chính, ông này đã đề nghị được theo tôi đến Trung kỳ. Những hoạt động của tôi
được phối hợp trù liệu sao cho phải trả tự do cho tuần hạm Isly sau khi nó đã thả tôi ở Thuận An, ngay trước cửa sông Hương,
thời hạn kỳ lưu trú của tôi cho phép tôi chuyển tàu ở Đà Nẵng trên chuyến ghé cảng
của tàu thuộc Hãng Thư Tín Hàng Hải đi từ Hải Phòng đến Sài Gòn.
Khi
tôi lên tới boong tuần dương hạm thì tầm 5 giờ chiều, người ta đã “chuẩn bị sẵn
sàng” cho khởi hành. Họ nhổ neo ngay lập tức để ra khỏi những luồng lạch của vịnh
Hạ Long trước khi trời tối. Trong ánh sáng ngày đang tàn dần, những ghềnh đá của
vịnh mang một vẻ hư ảo; đó là những quái vật khổng lồ quấn trên mình làn sương
mù, những bóng ma quỷ quái mà chúng tôi để lại sau lưng mình trong một phong cảnh
ác mộng. Tất cả mờ dần rồi biến mất; trời, nước, đất đều mang một màu sám đồng
điệu, chẳng còn đường ranh giới rõ ràng nữa.
Thuyền
trưởng Pillot trong tình trạng không thể gượng dậy nổi nữa; ông ấy đã không thể
đến chờ tôi trên boong; ông đã phái người trợ lí của mình đến thay thế và xin lỗi.
Bệnh tình của ông tiến triển nhanh; hiện giờ chẳng gì có thể khiến chúng dừng lại;
kết cục định mệnh hiển hiện rõ ràng và chỉ nay mai thôi. Tôi nhìn thấy thuyền
trưởng nằm trên đài chỉ huy, vẫn còn giám sát sự vận hành, hiến tặng cho con
tàu của mình những hơi thở cuối cùng của đời ông. Tôi rất vui được gặp lại các
sỹ quan, nhân sự của tuần dương hạm mà tôi đã vô cùng hài lòng trong chuyến đi
đầu tiên. Chuyến đi thứ hai này sẽ ngắn hơn nhiều, nhưng cũng hơi náo động hơn.
Trước những cú rập rềnh tròng trành mà những làn sóng của vịnh Bắc bộ đập vào con
tàu, và chính con tàu này còn thêm vào vài động tác riêng từ phía sau, từ phải
sang trái, giống như động tác của một cái chảo rán hoặc một cái nồi khi bếp trưởng
tung hứng. Sự rung lắc phụ này không hợp gu với tất cả mọi người. Để biết liệu
người ta có kháng cự được cơn say sóng biển hay không, thì đi trên những con
tàu trở khách là chưa đủ, mà phải ở trên một tuần chiến hạm nhỏ chạy nhanh, tầng
trên bị chất nặng bởi cỗ đại pháo đi trong một vùng biển động. Người ta thích thú
trong toàn thể những động tác mà biển có thể gây ra và với tính dữ dội và đột
ngột nhất của chúng.
Cặp
bến vào ban ngày ở Đà Nẵng thì dễ dàng; dãy núi hùng vỹ bao quanh vịnh, những
hình thể đặc trưng của nó không cho phép nhầm lẫn. Nó không giống như ở Thuận
An, nơi mà bờ biển thấp và nơi mà phải lấy những điểm mốc trên các dãy núi phía
trong hoặc trên những dãy núi xuất hiện ở phía nam. Chỉ đến lúc khi tiến vào rất
gần, với sự thận trọng, thường xuyên dò đường khi ta chưa quen với vùng biển
này, mà ta nhận ra đồn lũy An Nam và những cột tín hiệu được dựng ở cửa sông
Hương.
Tuần
hạm Isly đến nơi khi ngày đã sáng rõ.
Sau vài ngập ngừng và mò mẫm, chúng tôi khám phá Thuận An.
Khi
tiến gần lên, mọi thứ hiện ra rõ ràng. Đồn lũy, mà những chiến hạm của đô đốc Courbet
đã oanh tạc, ở ngay trước mặt chúng tôi; bãi biển, nơi đã diễn ra sự đổ quân của
các thủy thủ Pháp và trận chiến đấu đẫm máu nhưng nhanh chóng kết thúc của một
nhóm quân chống lại những đội quân của Hoàng đế An Nam, trải dài bất tận phía
bên phải. Bãi biển có nhiều chỗ lỗi lõm; đó là những tòa nhà mà chúng ta đã xây
dựng: một bệnh viện, một sở bưu điện, vài ngôi nhà ở nằm thấp thoáng dưới những
hàng cọ. Xa hơn một chút, nổi lên một tòa lâu đài, với những tỉ lệ cân xứng
xinh xắn và phong cách An Nam, được gọi là “nhà tắm của vua”. Đó là một nơi nghỉ
mát của Hoàng gia, ngày nay đã bị bỏ hoang.
Một
con tàu sà lúp có hình dáng khá xấu xí thả leo ngay trước cửa Thuận An; nó đi về
phía chúng tôi. Giám đốc nội các của Thống sứ Trung kỳ và mấy quan viên cao cấp
leo lên tuần chiến hạm Isly, những vị
quan viên ấy leo lên rất chật vật, họ bị vướng víu bởi chính những đôi giày của
mình, được làm cho những người chỉ quen đi lại bên ngoài tư dinh họ bằng những
cỗ kiệu hoặc cáng. Tôi sẽ gặp lại cùng những người ấy ba bốn năm sau đó, chân
đi giầy bằng da vàng với nhãn mác sang trọng. Thực ra mà nói, chính nhờ giầy và
lọng dù mà ngành công nghiệp của chúng ta đã thực hiện lần thâm nhập đầu tiên
vào dân An Nam. Năm 1897, An Nam vẫn còn chưa biết gì về chúng, hệt như họ gần như
chẳng biết gì về tất cả chúng ta. Họ biết sức mạnh quân sự của chúng ta, thứ mà
họ cảm nhận hiệu quả, và chẳng gì hơn thế nữa.
Con
tàu sà lúp, đã đưa những biệt phái của Hoàng đế và của phủ Thống sứ đến với tôi,
còn phải chở tất cả chúng tôi đi, dẫn chúng tôi vượt qua bãi và bơi ngược dòng sông cho tới tận nơi chỉ còn cách Huế vài ki
lô mét. Đó chính là một tàu thủy Trung Quốc mà thi thoảng vào mùa tốt và đẹp trời,
thực hiện những chuyến đường biển và đường sông từ Đà Nẵng ra Huế, chạy dọc
theo bờ biển và ép sát bờ nhất đến mức có thể đến tận Thuận An, sau đó vào sông
Hương. Nó chỉ mạo hiểm rời Đà Nẵng khi có điện tín thông báo rằng “sóng cồn” ở
Thuận An bình lặng tuyệt đối và có thể qua được đó mà không gặp nguy hiểm. Đây
là điểm khó nhất của chặng đường đi. Dải cát hay mỏm cát ngầm mà sóng biển thường
bị chặn lại ở đó, được tạo lên do hành động kép của biển và của nước sông. Vào
lúc đẹp trời, một con tàu sà lúp cố định từ hai mét hoặc hai mét rưỡi băng qua
mà không khó khăn gì để tiến vào sông. Ngay khi có chút sóng lừng nổi lên, việc
vận hành trở nên khó khăn, và con tàu Trung Quốc chẳng dám mạo hiểm dấn vào.
Vào lúc sóng to gió lớn, cửa vào bị đóng hoàn toàn. Bất kỳ con tàu nào qua cũng
sẽ bị nạn.
Những
quả bóng đen, được cột trên ngọn cây sào dựng ngay trên bãi biển Thuận An chỉ
con số của chúng, hệt như điện báo đến Đà Nẵng rằng mỏm ngầm là tốt, dễ điều khiển hoặc không thể qua được. Các cọc tiêu chỉ cho
thấy giới hạn của thủy đạo vào sông, mà cần phải hết sức tránh đi chệch luồng
đường.
Vào
đầu tháng Ba năm 1897, khi tôi đến Thuận An, trên tuần hạm Isly, mỏm ngầm tốt, và con tàu cũ kỹ Trung Hoa của chúng tôi băng
qua dễ dàng mà không gặp nguy hiểm gì, không gây xúc động cho khách lữ hành mà
nó đang chở đi. Chúng tôi dấn vào trong sông Hương hoặc, chính xác hơn, trong
phá Thuận An mà nó tạo thành trước khi đổ ra biển. Vài khắc sau, chúng tôi đi
ngược lên.
Thời
tiết đẹp, không quá đỗi nóng ; mặt trời lúc ẩn lúc hiện qua những đám mây nhẹ quần
tụ lại. Trên sông, khá đông những con thuyền tam bản đi lại, vận hành được nhờ
cánh buồm chỉ hơi căng dưới một cơn gió nhẹ, nếu thiếu gió thì có hai người
chèo bằng mái phụ, dòng nước, đôi bờ sông, những chủ thuyền tam bản và dân làng
tò mò tụ họp lại khi chúng tôi đến gần, chẳng khác mấy những gì chúng tôi chứng
kiến ở Bắc kỳ. Nhưng nếu như phong cảnh gần nhất giống như những gì mà vùng đồng
bằng châu thổ sông Hồng ban tặng cho cặp mắt khách lữ hành, thì ở đây hẹp hơn,
điệu đàng hơn nhưng cũng gần gũi hơn. Đó là bởi ta nhận ra rất nhanh những ranh
giới. Trước mặt chúng tôi, chỉ cách chừng vài dặm, độ cao đã sừng sững, che khuất
tầm nhìn, buộc ta phải ngước lên bầu trời, nơi mà gần như hoà lẫn với nó, phần
nền xa xa xuất hiện những mỏm gồ ghề của những dãy núi khổng lồ. Không còn là vẻ
đẹp bâng khuâng hoài niệm của những cánh đồng bằng mênh mông xứ Bắc kỳ nữa: đó
là một khoảnh đất nhỏ nhắn xinh xắn được bao quanh bằng một khung cảnh oai
nghiêm.
Đến
gần Huế, chúng tôi rời khỏi con tàu sà lúp. Con tàu này chắc thấy sẽ không còn
đủ nước trên thượng nguồn, và chúng tôi leo sang “thuyền tam bản chạy hơi nước”
của phủ Thống sứ. Còn thuyền nhỏ xíu chỉ cố định chừng 50 xăng ti mét; không khỏe
và không nhiều chỗ, chẳng có gì gọi là tiện nghi cả. Đó là một sản phẩm sơ đẳng
của nền công nghiệp Hải Phòng. Nhưng trong tình trạng mà những phương tiện đi lại
ở Trung kỳ như vậy thì nó lại trợ giúp được. Loạc choạc nhọc nhằn, chạy rồi lại
không chạy, chúng tôi tiến lên được vài ki lô mét còn lại để về đến Huế.
Tòa
nhà của phủ Thống sứ, một doanh trại và một khách sạn nhỏ nằm trên bờ sông, bên
hữu ngạn; thành phố và thành trì nằm trải dài bên tả ngạn. Giữa chúng là một
nhánh sông dài 400 mét; đó còn hơn cả cái cần thiết để không va chạm nhau hàng
ngày.
Sự
chia rẽ này nói lên thực tại chế độ Bảo hộ Pháp thực hiện ở An Nam: một sự giám
sát cao, với sức mạnh nằm phía mình, nhưng không có phương tiện hành động, dấn
vào bất kỳ điều gì. Chính phủ An Nam sống, chia tách khỏi chúng ta đến chừng họ
có thể, cuộc sống của họ thời xưa, nhưng sợ sệt và sau đó bị tê liệt vì cái tốt
cũng như vì cái xấu.
Tôi
cập bến dưới tiếng kèn hiệu của đội thủy quân lục chiến, giữa những hàng rào
danh dự các binh sỹ, các hiến binh và lính bảo an An Nam, dưới sự tung bay
thích thú của những lá cờ tam sắc và những cờ hiệu điểm đốm sặc sỡ của An Nam.
Ngài Thống sứ Brière, do những cơn đau bệnh thấp khớp khiến ông bước đi khó nhọc
và không thể đến được biển Thuận An, nên chỉ đến đứng đón tôi ở bến tàu. Đó là
một cựu viên chức hành chính ở Nam kỳ, ông hiểu rất rõ người An Nam và nói được
tiếng họ, ông ấy rất thông minh và tinh tế. Nếu phải tin vào những gì mà tôi đã
nghe được ở Paris thì người tiền nhiệm tôi đã chẳng hài lòng về ông ấy và đã đề
nghị cho nghỉ hưu. Đề nghị này có hiệu quả một năm sau đó, mà tôi ngỡ không cần
phải can thiệp vào. Chẳng có gì đã khiến tôi tin rằng ông Brière không phải là
một cộng sự dưới quyền đáng tin tưởng, một viên chức có khả năng thực thi một
cách trung thực và, nếu cần thiết, một cách khôn khéo những quyết định do cấp
trên đưa ra. Tôi đã chỉ giữ toàn những kỷ niệm đáng mến về ông ấy và về cách
hành động của ông.
Hiệu Constant dịch phần này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét